Tròn ba năm sau khi họa sĩ Trần Nguyên Dũng qua đời, những ngày đầu tháng 6 này, triển lãm “Những ngày thảnh thơi” trưng bày khoảng 60 tác phẩm của ông mở cửa tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng (5/3/1942-2/6/2023) là một người con của phố cổ Hà Nội, vốn có biệt danh với bạn bè thân thiết là “Dũng đen chợ Gạo”. Từ sớm, ông đã được tiếp cận hội họa qua sự chỉ dẫn của họa sĩ Lương Xuân Nhị tại xưởng “Trí Tri”, sau đó tiếp tục học tập tại xưởng “Sáng Tạo” của họa sĩ Phạm Viết Song. Năm 18 tuổi ông đã được nhận vào làm việc tại Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội với vai trò họa sĩ. Dành phần lớn cuộc đời gắn bó với môi trường mỹ thuật Thủ đô, Trần Nguyên Dũng vừa làm công việc được giao vừa âm thầm theo đuổi con đường sáng tác một cách bền bỉ như tính cách của ông. Đến năm 1993, ông xin nghỉ hưu sớm để chuyên tâm theo đuổi con đường sáng tác độc lập và chỉ rời giá vẽ vài ngày trước khi qua đời.
Theo tâm sự của bà Trương Thanh Trà, vợ của họa sĩ Trần Nguyên Dũng, khi còn công tác ở Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, công việc hàng ngày của ông khá vất vả. Ông nghỉ hưu sớm để chuyên tâm dành thời gian cho giá vẽ là một quyết định có tính dấu mốc. Thập niên 1990 cũng là thời gian mỹ thuật đổi mới mạnh mẽ và trở thành giai đoạn đỉnh cao, bung nở các sáng tác trong sự nghiệp của họa sĩ Trần Nguyên Dũng. Thời điểm ấy, ngôn ngữ tạo hình trong hội họa của Trần Nguyên Dũng được nhiều bạn bè đồng nghiệp đến xem tranh đánh giá là đạt đến “độ chín”: tự do hơn, mạnh mẽ hơn và giàu chiều sâu nội tâm, chiều sâu văn hóa mà ông đã âm thầm tích lũy, nuôi dưỡng trong suốt hơn nửa cuộc đời mình.
Nói về hội họa của Trần Nguyên Dũng, họa sĩ Trịnh Sinh Nha đã bày tỏ sự trân trọng với những ghi nhận đặc biệt: “Tôi có thể khẳng định Trần Nguyên Dũng là người Hà Nội cổ, vì ông có một cốt cách nho nhã, thâm trầm, thích riêng tư, tự sự thẩn thơ của một “sĩ phu Bắc Hà” nhiều hơn tính cách của một tác giả thời thượng. Nhưng hội họa của ông thì lại đối nghịch với tính cách đó, trên tranh ông vẽ khoáng đạt hơn về hình thể, màu sắc nhưng lại rất rực rỡ, tuy không vội vã, không tình cờ nhưng ở hình và nét vẽ đậm đặc vẫn có chất lặng lẽ, âm thầm của người Á Đông.
Vì thế, khi xem tranh Dũng, người xem quý cái tình cảm chân thành với hội họa của ông. Sự yêu thích đó có lẽ ở chỗ: trong khi đi tìm bản thân mình thì đồng thời ông cũng xích lại gần mọi người hơn. Điều đó ta có thể thấy ở những tìm tòi tỉ mỉ, công phu theo lối ấn tượng, phân tích chi tiết như trên một số bức tranh sơn dầu khổ lớn: “Chợ hoa Tết”, “Chợ hoa cúc”, “Trong vườn”, “Chợ hoa đào”, “Múa rồng”, “Mục đồng”, “Lên đồng”… Nhưng ở đây, những chi tiết là những họa tiết hình học được khai thác, thừa hưởng truyền thống trang trí của người Việt cổ nên tranh ông mang đầy bản sắc dân tộc…”.
Tác phẩm “Chợ Bưởi ngày Tết xưa” (Sơn mài, 2020).
Có thể thấy, lúc sinh thời dù không đạt được tiếng vang mạnh mẽ như một vài họa sĩ cùng thời khác, nhưng Trần Nguyên Dũng được nể trọng bởi một con người cần cù, biết lắng nghe, ham học hỏi và tinh thần tự học, tự hoàn thiện chính mình để lưu lại dấu ấn nghệ thuật trong các tác phẩm. Trong hơn ba thập kỷ làm việc tự do (1993-2023), họa sĩ Trần Nguyên Dũng đã bứt phá mạnh mẽ để thực hành hội họa đa dạng về đề tài, chất liệu, từ sơn mài, sơn dầu, bột màu, lụa, giấy dó đến các hình thức tổng hợp. Nhiều tác phẩm của ông hiện nằm trong nhiều bộ sưu tập trong và ngoài nước như Mỹ, Pháp, Autralia, Đức, Nhật Bản...
Bà Trương Thanh Trà kể lại: “Sau khi rời cơ quan công sở, ông nhà tôi chỉ chăm chăm vào vẽ. Ông ấy vừa là người kiệm lời, vừa sợ chốn đông người và ít quan tâm đến các vấn đề khác trong cuộc sống như cơm áo gạo tiền, nên mối quan tâm lớn nhất của ông ấy chỉ là vẽ và vẽ. Dường như mọi tâm tình ông “trút” vào tác phẩm, gửi gắm hết vào tác phẩm chứ chẳng mấy khi bộc bạch gì, ngay cả với vợ con. Trong mọi cuộc vui, mọi cuộc đàm đạo về nghệ thuật, ông cũng luôn là người lắng nghe. Thậm chí khi vẽ xong rồi, ai hỏi mua tranh, gallery nào muốn trưng bày, tranh bán được bao nhiêu tiền…, ông ấy cũng chẳng bao giờ hỏi đến. Ông ấy đã dành cho hội họa một tình yêu trọn vẹn, trong sáng, thuần khiết cho đến tận những ngày cuối đời…”.
Từ di sản hội họa mà họa sĩ Trần Nguyên Dũng để lại qua triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, có thể thấy ngôn ngữ hình ảnh của ông mang đậm tinh thần Việt Nam với chủ đề xoay quanh phụ nữ, lễ hội, đời sống và ký ức văn hóa. Tác phẩm của ông giàu tính hoài niệm nhưng không bi lụy, mà đầy sắc màu, sống động, giàu cảm xúc. Dường như Trần Nguyên Dũng chính là hiện thân của một nghệ sĩ “ẩn mình trong tác phẩm”. Nhưng có lẽ, chính sự lặng lẽ trong đời sống ấy lại tạo nên một đối cực thú vị: hội họa của ông chưa bao giờ tĩnh lặng. Ông chọn cách đi chậm, đi vững chãi trên con đường của riêng mình.
Bạn bè hội họa của ông nhận định rằng, chỉ đến khi ông không còn nữa, người ta mới nhận ra, trong sự lặng lẽ ấy là một hành trình sáng tạo bền bỉ, và một đời sống nội tâm phong phú đã được tích lũy qua từng lớp màu. Không chỉ thành công ở mảng đề tài vẽ thiếu nữ và hoa, phố phường Hà Nội, họa sĩ Trần Nguyên Dũng còn gây ấn tượng bởi ông đặc biệt hứng thú với đề tài văn hóa dân gian mang đậm sắc màu dân tộc. Không chỉ yêu thích chủ đề thiếu nữ và hoa, phố phường Hà Nội, trong tranh của Trần Nguyên Dũng là một không gian ký ức được đánh thức: Đó là những lễ hội làng rực rỡ sắc màu, là những màn múa rồng, múa rối, những sinh hoạt văn hóa dân gian, là những cung đàn, điệu hát, những tích truyện, những áng văn chương cổ đã từng là nhịp sống tinh thần của cộng đồng như phân đoạn “Thị Màu lên chùa” trong vở chèo nổi tiếng “Quan Âm thị Kính”, chuyện về Chử Đồng Tử và Tiên Dung… Có thể nói, cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng, bằng chiều sâu nội tâm, sự đa cảm của mình đã thu nhận và gửi gắm vào tác phẩm mang lại cho người xem nhiều cung bậc cảm xúc.
Họa sĩ Trần Nguyên Dũng giờ đây đã thực sự có “Những ngày thảnh thơi” sau khi đi trọn con đường đi riêng đầy tìm tòi, đầy màu sắc, tình yêu với hội họa và thành phố mà ông đã một đời gắn bó. Đây cũng là dịp để công chúng Thủ đô tiếp cận gần hơn với một họa sĩ Hà Nội tự lập, kín tiếng nhưng đã dành trọn cuộc đời mình cho hội họa, cho văn hóa mang đậm sắc màu truyền thống.