Vua vọng cổ Út Trà Ôn: Nỗi buồn đem theo niềm vui gửi lại...

Đó là người đàn ông có cái tên khai sinh thật thà như đếm: Nguyễn Thành Út. Với năng khiếu bẩm sinh cùng sự đam mê khổ luyện suốt mấy chục năm ròng, Nguyễn Thành Út đã trở thành một nghệ sĩ cải lương được mến mộ suốt từ Nam tới Bắc, được suy tôn là "Vua vọng cổ" với nghệ danh Út Trà Ôn (1919-2001).

Ngày 13 tháng 8 tới đây cũng là chẵn 10 năm ngày mất của NSND Út Trà Ôn. Nhân dịp này, người viết xin được cùng bạn đọc ôn lại những câu chuyện đáng nhớ xung quanh cuộc đời thú vị của người nghệ sĩ đáng kính...

Từ món quà tặng của một nhà sư

Tên thường gọi ở nhà của ông là Mười Út, vì ông là người con thứ mười, cũng là con út. Mười Út đam mê ca hát từ nhỏ, thường tụ tập bạn bè để hát cho họ nghe những lúc việc đồng rảnh rỗi. Là người có chất giọng trời phú, lại sinh ra trên một vùng đất nổi tiếng với nghệ thuật cải lương nên tiếng ca tự biên tự diễn của Mười Út chẳng mấy chốc được nhiều người chú ý. Đã vậy, trong thời gian ông tham gia giữ chân xướng danh cho các hương chức, hội tề tại một số lễ cúng ở đình, ông đã được các nghệ nhân trong Ban Nhạc lễ của làng dạy cho 20 bài cổ nhạc. Vậy là, nhiều tối, giữa sân nhà, với cây đờn cò và một ly rượu đế, ông mải miết ca cho bà con chòm xóm nghe, tới độ có lúc quên cả thời gian…

Mến mộ trước năng khiếu đặc biệt của chàng nông dân trẻ, một ngày nọ, có nhà sư đã tìm tới tặng Mười Út bài "Tôn Tẫn giả điên", một bài vọng cổ gồm 20 câu. Với "vốn liếng" 20 bài cổ nhạc tích cóp từ trước, cộng với món quà tinh thần mà nhà sư tặng, Mười Út quyết định từ giã quê hương lên Sài Gòn lập nghiệp. Với cái nốp lá, vài bộ quần áo cùng một ít bài hát trong đầu, ngay khi mới cập bến sông Vàm Cỏ, Mười Út trông thấy một chiếc ghe bầu căng dòng chữ: "Gánh hát Tiến Hóa, cần tuyển kép trẻ". Mười Út tự tin xin được "thử giọng". Vừa nghe Mười Út thể hiện câu vọng cổ đầu tiên, ông bầu gánh hát đã gật đầu ưng thuận nhận ngay chàng trai trẻ vào gánh hát của mình. Đây là một bước ngoặt quan trọng đối với Mười Út, là một điểm tựa để ông bứt lên thành một danh ca có ảnh hưởng sâu rộng đối với sân khấu cải lương miền Nam. Bấy giờ là năm 1942.

Nghệ danh và tiền công diễn xuất

Từng có bài viết kể rằng, nghệ danh Út Trà Ôn là do Mười Út tự chọn để tưởng nhớ ân nghĩa sinh thành của cha mẹ và mảnh đất quê hương. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, cái nghệ danh này thực ra là do thiên hạ "chọn giùm" cho ông, là cách họ vinh danh ông, muốn phân biệt ông với một số nghệ sĩ cải lương khác.

Mộ NSND Út Trà Ôn ở Chùa Nghệ sĩ (Quận Gò Vấp, Tp HCM).
Mộ NSND Út Trà Ôn ở Chùa Nghệ sĩ (Quận Gò Vấp, Tp HCM).

Soạn giả Viễn Châu, người có tới cả nghìn bài vọng cổ được nghệ sĩ Út Trà Ôn truyền bá qua giọng ca tuyệt hảo của mình nhớ lại là vào năm 1947, ông đã nghe danh có một kép hát tên Út, xuất thân từ Trà Ôn nên hãng băng đĩa ASIA đã đặt nghệ danh Út Trà Ôn. Một ký giả của Đài RFA, sau khi dày công tìm hiểu cũng khẳng định "Nghệ danh Út Trà Ôn là do Đài Pháp Á đặt cho ông Nguyễn Thành Út, tức Mười Út, sau khi ông rời quê nhà Miệt Vườn - theo chữ nghĩa của nhà văn Sơn Nam - ở huyện Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long - HHQ) lúc bấy giờ để lên Sài Gòn thi thố tài năng…".

Đối với Út Trà Ôn, Sài Gòn quả là "miền đất quả ngọt", là "đất làm ăn". Ngay khi mới chân ướt chân ráo tới đây, tài nghệ của ông đã nhanh chóng được đón nhận. Trong một cuộc thi ca cổ nhạc do hãng rượu Bình Tây tổ chức, Út Trà Ôn đoạt giải nhất. Đài Pháp Á liên tiếp mời ông ca vọng cổ trên đài. Các bài "Thức suốt đêm thâu", "Sầu bạn chung tình" và đặc biệt là "Tôn Tẫn giả điên" qua giọng ca ấm áp, truyền cảm, đậm phong cách miền Tây Nam bộ của Út Trà Ôn đã khiến thính giả say như điếu đổ. Nhiều đoàn hát nghe danh Út Trà Ôn cũng tìm mọi cách để mời bằng được giọng ca đang hút khách này cộng tác với gánh hát của họ.     

Có thời kỳ, nghệ sĩ Út Trà Ôn cộng tác với Đoàn hát Thanh Minh của bầu Nghĩa, chồng bà bầu Thơ (mẹ đẻ của NSND Thanh Nga sau này) với số tiền thưởng tính theo năm là 750 nghìn đồng một năm. Trường hợp ngày lễ, nếu diễn hai suất một ngày thì nghệ sĩ Út Trà Ôn được nhận thù lao 3.000 đồng, tương đương với một cây vàng tính theo thời giá bấy giờ. Một mức thu nhập phải nói là rất cao (có những đêm diễn, nếu không có sự xuất hiện của Út Trà Ôn là khán giả rầm rầm đòi lại tiền vé). Nhiều người cùng thời với nghệ sĩ Út Trà Ôn ghi nhận, chính nhờ Út Trà Ôn mà tiền thưởng dành cho các nghệ sĩ cải lương đã được cải thiện rất nhiều.

Bởi yêu nên muốn truyền nghề…

Kể cũng hơi thừa nếu nói một người như NSND Út Trà Ôn… yêu nghề. Tuy nhiên, trong cách yêu nghệ thuật cải lương của ông, ta luôn thấy một sự gắn bó đến thành máu thịt. Ca sĩ Bích Phượng, người con út và cũng là người duy nhất trong gia đình đi theo nghiệp ba mình từng kể: Hồi chị lên 10, mỗi chiều chủ nhật ba chị lại dắt chị đi xem hát. Biết chị là con gái của nghệ sĩ Út Trà Ôn, mọi người ai cũng hỏi: Lớn lên có theo nghề của ba không? Chị hồn nhiên trả lời "Không" khiến ba chị rất thất vọng. Thế rồi sau này, vẫn theo lời kể của Bích Phượng, một hôm bất thần trông thấy con gái rượu của mình xuất hiện trên truyền hình với nhóm nhạc dân tộc, ba chị đã kêu lên với vợ: "Con Phượng hát dân ca hay thiệt bà ơi! Thôi thì nó đi theo tân nhạc cũng quý rồi! Miễn dính dấp đến nghệ thuật đã là hậu duệ của Út Trà Ôn".

Tác giả Thanh Hiệp, trong bài viết "Vĩnh biệt NSND Út Trà Ôn" (Báo Người Lao động số ra ngày 14/8/2001) đã kể lại cảm tưởng của mình sau một lần đến thăm nghệ sĩ Út Trà Ôn tại nhà riêng của ông: "Mái tóc bạc phơ với nụ cười đôn hậu, ông tâm sự: Bây giờ tôi không còn nhớ gì, mỗi khi xem con cháu hát trên truyền hình thì thấy thèm được ra sân khấu. Xã hội ngày càng tiến triển, bài vọng cổ cũng theo đó mà sáng tạo. Nhưng sao bây giờ các em nhỏ ca không bằng niềm say mê. Vì thế bài vọng cổ bị cải biến nhiều quá". Và Út Trà Ôn ao ước: "Phải chi còn khỏe tôi lại theo anh Viễn Châu, cô Út Bạch Lan đi chấm thi…".

Người nghệ sĩ trọn nghĩa, vẹn tình

Đến nay, nhiều người vẫn nghĩ, nghề đàn hát thường đem tới cho người nghệ sĩ những trục trặc trong đời sống gia đình. Cách nghĩ ấy xuất phát từ thực tế "vợ nọ con kia" của không ít nghệ sĩ thành danh, nhất là trong lĩnh vực "mùi mẫn" như sân khấu cải lương. Tuy nhiên, với Út Trà Ôn, nếu nhìn vào các diễn biến trong đời riêng của ông, ta sẽ thấy sự thể không phải vậy. Tuy được nhiều bậc nữ lưu rất "kết", song trước sau ông là người chồng chung thủy, chỉ chấp nhận cuộc sống một vợ một chồng. Có thời gian, do tất tật tiền của gom góp được đều ném cả vào gánh hát, việc làm ăn thua lỗ, tất cả mọi nguồn sống của gia đình đều đổ dồn lên vai người vợ, nghệ sĩ Út Trà Ôn rất xót xa ân hận. Nhiều đêm ông trằn trọc không ngủ được. Khi thấy vợ bật lên tiếng khóc, ông đã lựa lời an ủi: "Công chúng còn thương tôi thì sợ chi nghèo đói".

Theo ca sĩ Bích Phượng kể thì một lần, vì ngại phiền vợ con nên mặc dù đã mắc bệnh, đi lại khó khăn, song nghệ sĩ Út Trà Ôn vẫn tự một mình lần ra nhà vệ sinh, và rồi, ông bị té, phải nhập viện. Ông ra đi trong khi còn nhiều điều chưa nói được với vợ con. Thời gian ông nằm viện, vợ ông vừa chăm chồng vừa khóc…

Theo nhận xét của soạn giả Viễn Châu thì NSND Út Trà Ôn là một nghệ sĩ mộc mạc, tuy được khán giả hâm mộ nhưng sống rất khiêm tốn. Một số đồng nghiệp khác lại cho rằng, ông là người không "kén" vai diễn. Ông sẵn sàng tham gia những vai rất khác nhau, miễn là nó có cá tính, có số phận.

Năm 1955, tại Sài Gòn, trong một cuộc trưng cầu ý kiến khán giả của báo giới, nghệ sĩ Út Trà Ôn đã được tặng danh hiệu "Đệ nhất nam danh ca". Năm 1997, ông được Nhà nước CHXHCN Việt Nam phong tặng danh hiệu NSND. Trước khi ông mất, đồng chí Nguyễn Minh Triết (bấy giờ là Bí thư Thành ủy Tp HCM)  đã tới tận bệnh viện thăm người nghệ sĩ lão thành. Thi hài NSND Út Trà Ôn được an táng tại Chùa Nghệ sĩ, quận Gò Vấp…

Hồ Hữu Quang

Các tin khác

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc dân tộc Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.