Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Kỳ bí chuyện đi xin nhánh đền…

Từ Phố Ràng (xã Bảo Yên, tỉnh Lào Cai), vượt qua cung đường 279 uốn lượn quanh dòng sông Chảy trong xanh và những triền núi trùng điệp, chúng tôi đặt chân đến xứ sở Nghĩa Đô, một thung lũng rộng lớn, bằng phẳng bên dòng Nặm Luông hiền hòa. Chuyện kể của Nghệ nhân Ưu tú Ma Thanh Sợi cùng những tư liệu được ông dày công ghi chép lại đã đưa chúng tôi hòa mình vào không gian, thời gian tâm linh để tìm về ngọn nguồn hình thành và bảo tồn những giá trị văn hoá của ngôi đền.

3fnh-2.jpg
Đền Nghĩa Đô là không gian tâm linh độc đáo giữa vùng đất Tày Nghĩa Đô.

Đền Nghĩa Đô được xây dựng ở bản Nà Đình, xã Nghĩa Đô (Lào Cai). Ngôi đền gắn liền với chiến công của hai anh em Chúa Bầu Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật trong thời kỳ khai phá, dựng thành lũy, đánh đuổi giặc ngoại xâm trên dải đất Bảo Yên (Lào Cai). Tại vùng đất Mường Kuông (Nghĩa Đô ngày nay), các Chúa Bầu đã cho xây dựng tuyến phòng thủ bảo vệ thành Nghị Lang từ xa.

Khi các Chúa Bầu rút đi, một thời gian sau đó, các cuộc nội chiến diễn ra khiến cho nhân dân triền miên trong loạn lạc, ly tán. Chính vì thế, người dân Mường Khuông (tên gọi cổ xưa của Nghĩa Đô) mong muốn tìm kiếm một vị thần để lập đền thờ cúng. Khi ấy, các bậc bô lão trong các bản làng Nghĩa Đô đã thống nhất đi xin nhánh đền từ Xùng Đô (Trung Đô, Bắc Hà, Lào Cai) về thờ. Nghệ nhân Ưu tú Ma Thanh Sợi kể rằng: “Đền Nghĩa Đô là một ngôi đền linh thiêng và lâu đời. Quá trình đi xin nhánh đền, dựng đền là một hành trình gian nan, vất vả và nhuốm màu sắc tâm linh. Ngôi đền là tâm nguyện và ước mong của đồng bào Nghĩa Đô để có được điểm tựa tâm linh và cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.

Chuyện kể rằng, hành trình đi xin nhánh đền ở Trung Đô (Bắc Hà) về Mường Khuông rất gian nan và phải trải qua bốn chuyến đi, kéo dài nhiều năm. Chuyến thứ nhất, ba ông Hoàng Văn Tếp, ông Lương Văn Thỏi, ông Cổ Văn Nhập đi vào khoảng tháng hai năm Đinh Mùi (1847). Khi đến bản làng Xùng Đô, họ vào đền thắp hương, cầu chúa. Xùng Đô ra điều kiện là người Mường Khuông phải kết nghĩa làm em người Xùng Đô, đến ngày 14/7 âm lịch trong ba năm phải có người đại diện mang hiện vật lên cùng bản Xùng Đô vào tế lễ đền.

Chuyến thứ hai, đi vào ngày 10/7 năm Đinh Mùi (1847), đoàn ba ông lại mang lễ vật đi lên Xùng Đô. Nhưng chuyến đi này không thành, dọc đường, ông Cổ Văn Nhập bị ốm nặng và qua đời, đoàn phải trở về. Chuyến thứ ba, vào tháng Giêng năm Mậu Thân (1848), người Xùng Đô trả lời “như thế là Đức Chúa có điều gì không ưng, phải chờ mãn tang”. Vì thế, dẫn đến chuyến đi thứ tư vào ngày 10/7 năm Kỷ Dậu (1849), lễ vật được dâng cúng tại đền Xùng Đô đúng vào ngày 14/7. Năm ấy Xùng Đô tổ chức hội tế đền. Kết quả là Xùng Đô đã đồng ý chia đền cho Mường Khuông. Khi xong tiệc lễ, Xùng Đô giao cho đoàn một cái chuông đồng nhỏ, 1 cái lọ cắm nhang và 3 chân que hương, 1 tờ có chữ nho bằng giấy bản, 2 lá cờ xí khổ rộng 1,1x1,2 m, 2 cái mác cắm vào đầu cán cờ, hai bộ đồ tế.

Đoàn đi xin nhánh đền về đến bản Nặm Cằm bắt tay ngay vào việc chọn vị trí đất để đặt các vật thiêng và khởi dựng ngôi đền. Họ đem chuông, lư đặt vào một gốc cây chò nâu cổ thụ, cao đến ba chục sải, dưới gốc có bãi bằng phẳng rộng gần nửa mẫu, cách cánh đồng tầm hai trăm sải tay. Đêm hôm ấy cả mường không có tiếng gà gáy sáng, đêm hôm sau vừa xẩm tối, hươu nai kêu khàn tiếng. Sau một vài lần đổi vị trí đặt vật thiêng như ở gốc cây phay vạng đằng sau nhà ông Thỏi gần bản Pồng Phấn, đến cây trám cổ thụ có cây đa quấn xung quanh núi Pú Thấn sau cánh đồng Nà Mường rồi lại sang Pú Uốt đều xảy ra sự lạ, khiến lòng người bất ổn, tức là không chọn được vị trí đắc địa.

Đến năm Canh Tuất (1850), hiện tượng lạ lại xảy ra, hươu nai kêu cả ngày, gà im bặt tiếng gáy, người dân đi đâu đều gặp điều gở. Ông Ma Văn Tiểng, trưởng tộc họ Ma phân tích: “Bản Xùng Đô ở phía mặt trời lặn, các nơi định đặt đền trước đều ở phía mặt trời lặn, có nghĩa là Mường Khuông chưa muốn lập đền, Chúa không ưng là phải, nên chuyển sang mạn núi phía mặt trời mọc Chúa chắc ưng ngay, các ông thử đem đặt ở gốc cây trám lớn sườn núi Pú Chè xem, chắc chắn là được”. Nghe lời phân tích của ông trưởng họ Ma, sau những nghi thức tâm linh, dân bản Mường Khuông đã chọn được vị trí dựng đền đắc địa dưới chân núi Pú Chè, hướng nhìn thẳng ra dòng suối Nặm Luông hiền hòa.

…Đến điểm tựa tâm linh thiêng liêng

Trải qua thời gian, ngôi đền Nghĩa Đô xưa chỉ còn nền móng trên đồi măng vầu um tùm, rậm rạp. Đến năm 2016, đền Nghĩa Đô được khởi công phục dựng khang trang tại vị trí núi Pú Chè (địa điểm cũ), ở một địa thế cao, thoáng, sơn thủy hữu tình, lưng đền tựa núi, hướng Tây, nhìn ra dòng Nặm Luông. Ngôi đền Nghĩa Đô thờ các vị nhân thần. Người thứ nhất là Vũ Văn Mật (nhân dân gọi là đức Chúa); người thứ hai là Vũ Văn Uyên (nhân dân gọi là đức Tả); người thứ ba là vị tướng người Tày bản Liền có tên là Hoàng Vẩn Thùng (nhân dân gọi là đức chúa Hữu); người cuối cùng được thờ đó là người cai quản đền (nhân dân gọi là nàng Công Nương).

Phong tục truyền thống trong lễ hội đền Nghĩa Đô.

Phong tục truyền thống trong lễ hội đền Nghĩa Đô.

Lễ hội chính của đền Nghĩa Đô được tổ chức vào ngày 14/7 âm lịch hằng năm. Vào ngày lễ, đồng bào Nghĩa Đô chuẩn bị, lựa chọn đồ lễ từ trước đó. Lễ vật bao gồm con trâu 3 năm tuổi, gà, rượu, gạo… Theo truyền thống, trong ngày lễ, nhà đền phải tiến hành các nghi lễ quan trọng, không thể thiếu như lễ xin mổ trâu, lễ rước kiệu trâu vào đền, lễ tế trâu xin phép được làm thịt chín, lễ dâng hương. Ngày 23/12/2016, đền Nghĩa Đô chính thức được UBND tỉnh Lào Cai xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Ông Trần Quốc Toản - Phó Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô cho biết: “Đền Nghĩa Đô là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ. Ngôi đền cũng hội tụ những giá trị văn hóa tâm linh, đó là các phong tục thờ, cúng lễ cổ truyền, niềm tin vào các bậc anh hùng, các bậc nhân thần đã che chở, bảo vệ quê hương, làng bản, con người. Đền Nghĩa Đô là địa chỉ, là điểm nhấn tâm linh trong hành trình khám phá những nét độc đáo của du lịch cộng đồng Nghĩa Đô”.

Từ bao đời nay, dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô trải qua bao thăng trầm của lịch sử để hôm nay vẫn luôn là điểm tựa tâm linh của đồng bào Tày và cư dân. Tín ngưỡng thờ Chúa Bầu đã có sức sống trường tồn trong đời sống văn hóa, tinh thần nơi đây. Ngôi đền không chỉ là không gian thực hành tín ngưỡng tâm linh mà còn là nơi thiêng liêng để đồng bào Nghĩa Đô gửi gắm khát vọng và ước mơ cao đẹp về cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc.

Nguyễn Thế Lượng

Các tin khác

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.