Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Ngoại lại chỗ đó, góc sân nhà có nắng rụng xuống cái tràng tre be bé đặt trên chiếc bội tre úp ngược. Dăm miếng cau khô queo quắt, mấy sợi vỏ cây sơn mang cũng héo queo đỏ thẫm. Ngoại lụm thụm bưng cái tràng con con ấy vào chỗ chõng tre bên hiên. Bàn tay gầy gầy, da nhăn nheo khẽ gỡ xếp từng thứ một vào cái rổ quảy con con.

Tôi hay lon ton về ngoại trong những ngày cuối tuần, có khi về cùng má, có khi một mình. Nhà ngoại cách nhà tôi một vạt đồi có con đường nho nhỏ thắt thẻo trên chênh vênh sườn dốc. Ở chung với ngoại có cu Bi, con cậu út trạc chừng tuổi tôi, hai đứa hay chơi chung với nhau.

Sau khi ngoại sắp đâu vào đấy những thứ con con be bé trong chiếc rổ quảy, tôi tranh phần ngoáy trầu. Trong cái nửa vỏ đạn mười hai li bảy được dùng làm ống ngoáy có một miếng trầu gọn ghẽ, một miếng cau với hạt cau khô tóp teo đen xỉn, đôi khi ngoại bỏ thêm sợi vỏ cây sơn mang vào, một loại vỏ cây núi mang vị chan chát. Tôi ngồi loay hoay ngoáy. Kêu ngoại thấm thiết chi trái cau điếc cứng ngắt để hạt cau ngoáy hoài không nhỏ. Cau đầy ra lựa trái nào ngon mà ăn.

Ngoại cười, rứa chứ hồi cả cau điếc cũng không có mà ăn. Nhớ năm sáu tư nắng nôm khô rang, cau cả làng không đậu lấy một trái. Mỗi cây cau bà Khóa chỗ giếng làng đậu được mấy buồng trĩu. Hồi bả hái chẻ phơi ai xin cũng không cho lấy miếng. Mấy bà già phải lên rẫy dạt vỏ sơn mang ăn chung với trầu.

Cuối năm đó lụt lớn nước băng làng. Nhà bả thấp hơn, nước ngập chuyển không kịp trôi hết lúa. Mọi người ghét bảo để bả ăn cau thay cơm. Đó xởi lởi trời cho bo bo trời lấy hết, con thấy chưa. Rồi bả chết đói không ngoại? Tôi hay hỏi chen vào những câu vô nghĩa. Nói rứa chứ rồi họ cũng cho mượn lúa mượn khoai ăn, dân mình lá lành đùm lá rách chứ có để ai chết đói đâu. Bởi, thức đêm mới biết đêm dài/ Sống lâu mới biết ngãi ai thâm trầm.

Ngoại hay nói bằng những câu tục ngữ có vần vè, rồi nghiêng cái ống ngoáy, lùa mớ trầu ngoáy xong vào miệng, nhai bỏm bẻm, xong đây đấy, ngoại quay sang dọn cất cái rổ quảy nhỏ có lỉnh kỉnh đồ hàng. Tôi chạy ù về phía cuối sân đem theo mớ dây su cùng thằng Bi sà vào bóng cây quýt có nắng rụng lỗ chỗ.

Một đôi dạo tôi về ngoại cùng má trong lưng lửng buổi trưa. Ngoại càm ràm rằng dẫn em đi chi, nắng nôi bể đầu. Má chỉ tranh thủ được bữa trưa về nhà ngoại, sáng chiều còn phải ra đồng, lên rẫy. Chỗ trưa ấy có má với ngoại ngồi thủ thỉ. Ngoại sắp lại mớ trầu má mới hái về, lá trầu hương to vàng ươm tươi mới. Ngoại tỉ mẩn lật con dao xếp ra. Con dao nhỏ như ngón tay, bén ngọt. Bàn tay run run ngoại rọc đôi cuống trầu và róc theo đường gân lá. Lá trầu được chẻ đôi thành hai phần bằng tăm tắp. Ngoại xếp chồng từng lá lên nhau gọn ghẽ.

Cái bình vôi bằng nắm tay người lớn, bầu bầu xám xỉn màu thời gian. Ngoại ngoáy cây sắt nhỏ có một đầu được đập dẹp lại vào trong bình, lôi ra ươn ướt mớ vôi màu trắng hồng. Quệt mớ vôi lên phần lưng lá trầu vừa rọc, ngoại bắt đầu tỉ mẩn gấp nửa lá trầu từ phía mút lá về lần phía cuống. Chọc lỗ nhỏ trên gói trầu và ghim cuống trầu vào đấy. Ngoại không têm trầu cầu kì cánh phượng. Gói trầu ngoại têm nhỏ nhỏ, gọn ghẽ, xinh xinh.

Má ngồi sau lưng ngoại, xổ mớ tóc bạc trắng rồi búi lại. Một dạo tôi hay so sánh tóc ngoại với tóc má. Rồi đồ rằng má không phải do ngoại sinh ra. Có đâu tóc ngoại ít lơ thơ mà tóc má dày đen kịt.

Xưa tóc ngoại còn nhiều hơn tóc má. Năm bảy hai, địch bắt ngoại xuống trung tâm cải huấn Tam Kỳ. Ngày hai bận chúng lôi ngoại ra tra xét vì tội có con làm Cộng sản, chúng cuộn mớ tóc dày trong tay rồi lôi ngoại quanh sân. Mớ nước vôi với xà phòng trộn chung, chúng bóp miệng đổ vào cho căng bụng rồi nhảy lên đạp cho trào ra. Rát đau đến chết đi sống lại. Hành hạ cả tháng trời không moi móc được gì nên thả ngoại về, tiều tụy, tả tơi. Rồi lần lượt cậu Sáu, cậu Ba, và cậu Hai ra đi mãi mãi. Tóc ngoại hóa mây trời, chỉ còn vài sợi lưa thưa. Má thanh minh bằng giọng đều đều của người minh chứng.

Nhiều khi tôi ngờ rằng người ngồi trước mặt không phải ngoại tôi. Có đâu người phụ nữ nhỏ bé, gầy thó lại chịu được những tra tấn dã man đến vậy.

Ngoại vẫn ngồi đó, sọ sẹ têm trầu. Tôi nằm dài gối đầu vào lòng má. Nghe ngoại và má thủ thỉ. Trưa phẳng lặng nhưng chắc rằng lòng ngoại, lòng má khi đó không phẳng lặng. Bởi có khi nào lòng con người ta lại yên bình khi nhắc đến chiến tranh, nhất là những người phải chịu những vết thương không bao giờ lành lặn do chiến tranh gây ra, như ngoại, như má.

Má quạt cái quạt mo đều đều đẩy gió, tôi dạt vào giấc mơ. Trong giấc mơ tôi thấy ngoại nắm tay tôi đứng nhìn đoàn quân trùng trùng ra trận. Tôi ngờ ngợ một gương mặt quen quen trong đoàn binh. Cậu sáu bây đẹp trai nhứt nhà, trắng trẻo, cao, miệng rộng, khi mô cũng cười. Cậu sáu hát hay nhứt. Lính binh vận mà...Ngoại hay thủ thỉ. Tôi thấy mình cũng ùa vào đoàn binh, cũng ôm súng. Tôi vẫy tay chào ngoại, ngoại đứng đó vẫy tay lại chào tôi, ngoại cười, nụ cười hiền từ, đỏ thắm...

Thanh Tuân

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.