“Tô Vũ chăn dê” ở Việt Nam

Tên thật là Tô Tử Khanh, Tô Vũ người đất Đỗ Lăng gắn liền với câu chuyện đi sứ đã trở thành điển tích, là một cảm hứng sáng tạo của văn học, nghệ thuật phương Đông. Chính sử kể, Lưu Bang tiêu diệt nhà Tần, lập nên nhà Hán, nhưng phía Bắc đất nước thường xuyên bị người Hung Nô quấy nhiễu, xâm lấn, thậm chí đã từng chiếm Hà Tào, hành lang Hà Tây và dãy Liên Sơn rộng lớn.

Đến thời Vũ Đế Lưu Triệt, quốc gia hùng mạnh hơn, đã đánh đuổi Hung Nô lùi về phía Bắc. Hòa bình tạm đến nhưng mong manh. Năm 101 TCN, vua Hung Nô là Thả Đê Hầu cho thả các sứ giả nhà Hán đang bị giam giữ. Đáp lại thiện ý, thể hiện tình giao hảo, Hán Vũ Đế phái Trung lang tướng Tô Vũ và Phó trung lang tướng Trương Thắng đi sứ Hung Nô cùng nhiều quà quý, đón các sứ giả trở về. Tô Vũ cầm cờ sứ chỉ huy sứ đoàn hơn một trăm người lên đường. Lúc đó, ông 42 tuổi. Không ngờ chuyến đi ấy kéo dài 19 năm.

image001.png
“Tô Vũ chăn dê” – Tranh cổ Trung Hoa.

Nguyên do là đêm trước khi về nước, Phó sứ Trương Thắng manh động bí mật lập mưu bắt cóc mẫu thân vua Hung Nô rồi trốn về nhà Hán. Việc bại lộ, vua Hung Nô vô cùng tức giận, bắt giữ tất cả các sứ thần nhà Hán. Hẳn nhiên, với tư cách “Trưởng đoàn”, Tô Vũ bị tra vấn. Vua nói có ấn tượng sâu sắc với Tô Vũ, nếu đầu hàng, sẽ tha mạng. Tô Vũ không chấp nhận. Lấy cái chết đe dọa, lấy vinh hoa phú quý dụ dỗ, Tô Vũ đều khảng khái cự tuyệt.

Vua cho nhốt vào hầm, không thức ăn, nước uống. Đói khát, Tô Vũ phải ăn băng tuyết trên mặt đất để sống, vẫn kiên trung một lòng, không phản bội đất nước. Vua bèn đày ông đến vùng đất không người ở tận Bắc Hải (nay là vùng hồ Baikal) có nhiệm vụ chăn một đàn dê đực với yêu cầu: khi nào dê đực cho ra sữa, thì sẽ được trở về. Từ đó, ban ngày Tô chăn dê bên bờ biển, ban đêm một mình trong chiếc lều hoang. Bị cắt lương thực, Tô bắt chuột hoang, đào rễ cỏ làm thức ăn. Làm bạn với cỏ cây, cầm thú. Tô kết bạn tình với một con “vượn người”, có với nhau một đứa con.

Sau 19 năm, gặp mùa chim nhạn thiên di về phương Nam, Tô Vũ viết một lá thư tỏ nỗi tha hương xót xa, nhờ chim nhạn mang về cố quốc. Thư đến tay Hán Vũ Đế... Một cuộc chia tay giữa người chồng Tô Vũ và người vợ “vượn người” diễn ra, cảm động đến mức nước mắt đời sau làm “trôi” đi “mẫu gốc”, để chỉ còn sự nức nở đau đớn của mối tình người - vật, đặc biệt nhất thế gian. Câu chuyện tự nhiên trở nên mơ hồ, huyền thoại, tự tỏa sáng ý nghĩa nhân văn.

Khoảng ba, bốn năm sau Cách mạng Tân Hợi (1911), ở Trung Quốc một bài hát rất được ưa thích tên “Tô Vũ mục dương từ” có nội dung kể lại điển tích trên. Lời hát có câu: “Lịch tận nan trung nan, tâm như thiết thạch kiên”(Vượt qua muôn khó khăn, trái tim vững như đá) như khích lệ, giục giã lòng người.

Như hạt giống tốt, từ cây đại thụ văn hóa Trung Hoa, điển tích “rơi” vào nhiều mảnh đất văn chương để mọc lên những cây tác phẩm “liên văn hóa”. Với một đất nước theo Nho giáo khắt khe như ở ta, chuyện “ngoài chồng ngoài vợ” là điều kỵ, chưa nói tới chuyện tình người - vượn.

Thế nên, ở thời trung đại, thường khai thác cảm hứng “trung quân”. Lê Thánh Tông có hai bài: “Vịnh Tô Vũ” và “Lại vịnh Tô Vũ”, cũng không có gì đặc biệt, chỉ khái quát lại cuộc đi sứ và ca ngợi Tô Vũ. Như có câu: “Sương nghiêm bao xuể thông năm muộn/ Tuyết giáo càng cao nguyệt tháng thu” (Vịnh Tô Vũ). Ý nói khó khăn càng làm cho ý chí con người “càng cao”.

Tác giả còn lại là nữ, có tên Ngô Chi Lan (1434 - ?), là trường hợp lạ. Bà có “Tô Vũ từ Hồ phụ” (Tô Vũ từ biệt người vợ Hồ) khá đặc biệt. Tác giả Hoàng Đức Lương trong “Trích diễm thi tập” thông tin, tác giả tên thật là Nguyễn Hạ Huệ, sống dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497), là cháu ruột Ngô Thị Ngọc Dao, là con nuôi Nguyễn Thị Lộ (thiếp của Nguyễn Trãi). Khi Lê Thánh Tông lên ngôi (1460), bà được vời vào cung làm Nữ học sĩ, lo việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân. Tương truyền Ngô Chi Lan nổi tiếng là người tài sắc vẹn toàn, chăm đọc sách, giỏi đàn ca, từ khúc, thường được Lê Thánh Tông triệu vào chầu trong các buổi xướng họa thơ văn. Vua phong chức “Phù gia nữ học sĩ”, còn gọi là “Kim Hoa học sĩ” (vì bà là người làng Phù Lỗ huyện Kim Hoa, sau đổi là Kim Anh, trấn Kinh Bắc, nay thuộc xã Sóc Sơn, thành phố Hà Nội). Bà để lại một tập thơ “Mai trang tập”(Tập thơ vườn mai), sau này thất lạc gần hết.

“Tô Vũ từ Hồ phụ” mang hơi hướng hiện đại, có thể do người đời sau “nhuận sắc”, là lời trữ tình của người chồng, rất mực cảm động, đau đớn: “Ngập ngừng nâng chén ly bôi/ Nghĩ mình muôn dặm, thương người năm canh”. Chữ “ngập ngừng” mới, chưa thấy có trong thơ trước thế kỷ XV. (Chỉ đến “Truyện Kiều” mới hoàn thiện một từ chỉ tâm trạng do dự, rụt rè: “Ngập ngừng nàng mới giãi lời trước sau”). Người ra đi “Nghĩ mình muôn dặm”, nghĩ về người ở lại “Thương người năm canh”. Không biết ai khổ đau hơn ai.

Nhưng quyết ra đi: “Trăm năm xin gửi chút tình lại đây”. Rất đúng với con người Tô Vũ, nặng việc lớn giang sơn, phải nhẹ tình riêng cá nhân: “Ngọn sứ tiết lung lay chín bệ/ Nặng chữ trung nên nhẹ chữ tình riêng”. Vợ chồng chia tay trong nước mắt: “Rượu một chén, lệ đôi hàng lã chã”. Họ chỉ còn biết trách trời, buồn tủi cho duyên phận mình: “Trách bà Nguyệt, ông Tơ sao khuây khỏa/ Đem duyên em mà vấn chạ xích thằng…/ Đem duyên em mà buộc lại chàng Tô/ Xui nên kẻ Hán người Hồ…”.

Giọng thơ mới (cách xưng hô, dùng từ, đặt câu) xen lẫn điển tích cũ làm câu thơ chơi vơi giữa hai bờ hư thực; huyền ảo, xa xăm và hiện thực, trước mắt. “Xích thằng” tức sợi dây tơ hồng, biểu tượng cho mối lương duyên, sự ràng buộc vợ chồng đã được định sẵn từ trước. Nhưng bây giờ chịu cảnh chia ly “kẻ Hán, người Hồ”, biết khi nào gặp lại. Cuối bài là hình tượng những giọt nước mắt lã chã rơi, tượng hình qua câu chữ: “Còn non, còn nước, còn dài”. Câu thơ sáu chữ ngắt làm ba mệnh đề kết cấu đẳng lập (còn/còn/còn) như những giọt nước mắt đồng dạng. Hai thanh bằng cuối cùng (còn dài) như một tiếng thở dài, lạc quan nhưng kiểu “vui gượng”. Càng thấy đau…

Một cảnh trong phim “Truyền thuyết về Quán Tiên”.

Một cảnh trong phim “Truyền thuyết về Quán Tiên”.

Nhưng câu chuyện Hoàng giáp Lê Quang Bí (1506 - ?) là có thật. Ông đi sứ khi 41 tuổi, tóc xanh, lúc trở về, tròn 60 tuổi, đầu bạc trắng. Hiệu là Hối Trai (là con Trạng nguyên Lê Nại, cháu bốn đời Lê Cảnh Tuân), người xã Mộ Trạch (nay thuộc Bình Giang, Hải Phòng). Năm Mậu Thân (1548), Mạc Phúc Nguyên cử Lê Tiến Quy làm Chánh sứ và Lê Quang Bí làm phó sứ, sang sứ nhà Minh. Nghi ngờ có chuyện khuất tất, vua Minh giữ Lê Quang Bí suốt 19 năm.

Giữ gìn phẩm hạnh, vẹn tròn kỷ cương phép nước, khi trở về, ông được phong chức Thượng thư, tước Tô Xuyên Hầu (có ý so sánh với trung thần nhà Hán Tô Vũ). Có sách chép tập thơ “Tô Công Phụng sứ” là của ông (có sách để “khuyết danh”) gồm 24 bài Đường luật, thuật lại chuyện Tô Võ, qua đó gửi gắm tâm sự của mình. Bài thơ “Bắc Hải chăn dê”, có đoạn: “Bể Bắc ngày chầy dê chưa đẻ/ Trời Nam nẻo viễn nhạn khôn không/ Khăng khăng chẳng chuyển lời vàng đá/ Bia tạc muôn đời tượng tướng công”.

Trong văn học hiện đại, khai thác mối tình “người - vượn” từ chuyện Tô Vũ, có thể kể tới truyện ngắn “Truyền thuyết về Quán Tiên” của Xuân Thiều. Truyện kể về ba cô thanh niên xung phong sống trong một hang đá trên đường Trường Sơn, là nơi nghỉ chân hiếm hoi, bộ đội bèn gọi là “quán Tiên”. Trong ba cô, Mùi là người đã có chồng, cưới nhau chưa quen mùi chồng vợ, chồng phải lên đường chiến đấu, vợ vào thanh niên xung phong. Nơi “quán Tiên” ấy, có một chú khỉ đực tinh nghịch hay trêu Mùi.

Ban đầu là nỗi sợ nhưng dần dần, những hành động bản năng của khỉ đánh thức nỗi lòng thầm kín “rất người” ở cô. Như một nỗi thường tình, cô nhớ về những kỷ niệm “ba ngày” sau cưới ngắn ngủi mà tuyệt vời mê đắm… Giữa cô và con khỉ, dường như có mối đồng cảm… Không có cảnh bom rơi đạn nổ, chết chóc… nhưng sao thấy chiến tranh có sức tàn phá thật ghê gớm quá. Giết người, còn triệt tiêu nhân tính, cướp đi bản năng rất đỗi thường tình của con người.

Cái “cao tay” của nhà văn là mượn nhân vật khỉ để làm một ngọn lửa ánh xạ vào sâu xa “cõi thầm kín” của nhân vật người, để bật ra cái khát khao sống, khát vọng được làm người bình thường. Từ góc nhìn này, tác phẩm là tiếng thét lên án chiến tranh đã cướp đi quy luật tự nhiên của tạo hóa, của con người. Truyện được chuyển thể thành phim cùng tên khá ấn tượng.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.