Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Và có lẽ không nơi nào mà những chợ truyền thống lại mở xuyên suốt từ đêm đến ngày. Đâu chỉ là nơi buôn bán, mua sắm nhộn nhịp, mà chợ ở Sài Gòn còn ẩn chứa những câu chuyện lịch sử đầy thú vị sau những cái tên.

Giai thoại một chiếc cầu

Tôi làm một cuộc lê la với Sài Gòn từ câu chuyện của nội mình ngày trước kể về những cái chợ, trong đó tôi ấn tượng mãi câu vè nhắc đến "chợ không đàn bà". Từ trung tâm thành phố, đi ngược về phía phường Cầu Ông Lãnh, sẽ thấy chợ nằm dưới chân cầu thường được gọi cùng tên với cây cầu và gắn trên mình nó là câu chuyện của trăm năm lịch sử.

ch-c-u-ong-lanh-nam-2002-nag-nguy-n-thanh-tung.jpg
Chợ Cầu Ông Lãnh năm 2002 (ảnh: Nguyễn Thanh Tùng).

Theo lý giải của nhà văn Sơn Nam và từ tư liệu là bài báo của Phong Vũ Trần Văn Hai (tức Khuông Việt) đoạt giải nhất về cuộc thi lịch sử trên báo Tri Tân xuất bản tháng 6/1942 thì cây cầu Ông Lãnh này gắn liền với câu chuyện về ông Nguyễn Thành Ý (tự Thiện Quang, hiệu Túy Xuyên, sinh năm 1819 tại Quảng Nam). Ông được xem là một trong những nhà ngoại giao đầu tiên của Việt Nam.

Năm 1874, triều đình Huế ký hiệp ước cắt đứt Nam Kỳ giao cho Pháp, theo hiệp ước này thì chính quyền Pháp được đặt lãnh sự quán ở Hà Nội và ngược lại, nhà Nguyễn được đặt lãnh sự quán ở Sài Gòn. Trụ sở đóng tại góc đường Đề Thám - Trần Hưng Đạo ngày nay, vị lãnh sự ấy là ông Nguyễn Thành Ý. Công việc chủ yếu của lãnh sự quán lúc bấy giờ là làm thị thực cho người miền Trung vào Sài Gòn mua bán nên ông Lãnh sự thường đi chiếc xe song mã qua lại khu vực này, có chợ dưới bến Chương Dương, chỗ chiếc cầu neo đậu xuồng ghe của giới thương hồ. Từ đó mới có tên gọi là chợ Cầu Ông Lãnh.

Dù vậy, ghi chép của học giả Trương Vĩnh Ký được coi là thuyết phục hơn với thị dân Sài Gòn, bởi nó còn câu chuyện liên quan đến việc đặt tên đường, nơi thờ ông Lãnh Binh Thăng và những ngôi chợ lâu năm ở TP. Hồ Chí Minh tương truyền là của 5 bà vợ ông Lãnh Binh Thăng như Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hom, Bà Hạt, Bà Điểm. Những địa danh ấy phản chiếu lịch sử thương nghiệp Sài Gòn thuở sơ khai.

Trong tư liệu của học giả Trương Vĩnh Ký, cây cầu gỗ bắc qua rạch Bến Nghé được xây bởi vị tướng tên là Nguyễn Ngọc Thăng, hay còn gọi là Lãnh Binh Thăng, sinh năm 1798 tại làng Mỹ Thạnh, tổng Bảo Hựu, tỉnh Định Tường (nay là Giồng Trôm, tỉnh Vĩnh Long). Ông là một vị tướng quan trọng của nhà Nguyễn thời vua Tự Đức và thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu tiên của Nam Kỳ. Ông Thăng quyết định xây cầu để thuận tiện giao thông và tăng cường phòng thủ chống lại cuộc tấn công của quân Pháp vào Gia Định. Dân chúng tôn kính ông và gọi cây cầu là cầu Ông Lãnh, không dám gọi tên của ông một cách trực tiếp.

Ông để lại dấu ấn của mình trong các trận đánh ở chiến dịch Mù U, đồn Cây Mai, đồn Thủ Thiêm và vùng phụ cận khi quân Pháp chiếm thành Gia Định. Trong trận chiến chống Pháp tại Gò Công năm 1866, Lãnh Binh Thăng tử trận. Ông được người dân lập mộ ở ấp Giồng Keo, làng Lương Mỹ, tổng Bảo Thành (nay thuộc Mỹ Thạnh, Giồng Trôm, tỉnh Vĩnh Long). Tại TP. Hồ Chí Minh, ông được thờ với vị Thành Hoàng và đức Trần Hưng Đạo ở đình Nhơn Hòa, phường Cô Giang. Ngôi đình này chạy một đoạn ngắn là ra ngay cầu và chợ mang tên ông. Ngoài ra, tên Lãnh Binh Thăng cũng được đặt cho một con đường thuộc quận 11 cũ của TP. Hồ Chí Minh.

Đến năm 1930 cây cầu bắc qua rạch Bến Nghé mới được xây dựng lại bằng xi măng thay mới cầu gỗ, trở thành điểm nối giữa đại lộ Lord Kitchener (sau đổi thành Nguyễn Thái Học) và bờ nam. Qua nhiều thập kỷ, hình ảnh cây cầu luôn gắn với đời sống đô thị, chứng kiến bao đổi thay của Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh.

Thăng trầm chợ xuyên đêm

Quãng những năm cuối thế kỷ XX, đám học trò nội đô chúng tôi hay chạy qua cây cầu này bởi nó bắc từ quận 1 sang quận 4. Hồi ấy quận 4 vẫn còn nhiều khoảng xanh trống, nhiều khúc kinh, rạch có cho câu cá hay mấy khu giải trí cuối tuần để thả diều, tụ họp trên chòi lợp lá ngó sông nước. Lần nào đạp lên dốc cầu từ hướng Nguyễn Thái Học, chúng tôi đều đi ngang cái chợ rau cù xôm tụ và hầu như bán buôn xuyên đêm.

Trong những câu vè về chợ ở Sài Gòn ngày xưa tôi vẫn hay nghe nội mình hát ngêu ngao mỗi khi đưa võng ru mấy đứa cháu nhỏ, thì cái chợ Cầu Ông Lãnh được nhắc đến như sau: "Chợ không đàn bà là Cầu Ông Lãnh". Mãi sau này mới nghe nội kể bởi hồi đó quanh chợ là lực lượng bốc vác hàng hóa toàn cánh đàn ông to khỏe. Hàng rau củ từ Đà Lạt hay các huyện khác của Lâm Đồng xuống từ ban đêm.

Cánh đàn ông bốc vác phải tới mấy trăm người, xáo động cả một con phố khuya. Hàng bán tấp nập theo đó. Rồi xe từ các mối nhỏ để chạy chợ sáng cũng tới lui bổ hàng. Chợ ngó tới ngó lui chẳng thấy đàn bà. Toàn cánh đàn ông trần trục bất kể khuya khoắt lạnh lẽo hay mưa gió. Chợ phân hàng sỉ buổi tối nhưng sáng ra là lại bán lẻ. Nên khu vực Cầu Ông Lãnh gần như là không ngủ ở đất Sài Gòn này.

Khu vực Cầu Ông Lãnh năm 1955.

Khu vực Cầu Ông Lãnh năm 1955.

Nhưng, đây cũng là ngôi chợ thăng trầm nhất nhì Sài thành. Năm 1874, chợ được xây dựng, tàu ghe tấp nập từ miền Tây theo thủy lộ lên đây buôn bán. Chợ được chia làm 3 khu vực bán trái cây, thủy hải sản và bán tạp hóa. Từ bến sông đến phố chợ, từng dòng người, từng gánh hàng đã góp phần tạo nên nhịp sống đặc trưng của đô thị phương Nam.

Ngày 24/10/1971, Chợ Cầu Ông Lãnh cháy lần thứ nhất. Bà con buôn bán hai bên lề đường, xe gắn máy, xe đạp, xe lam, xe ba gác ùn ùn đổ ra, chất đầy mọi thứ hàng hóa buôn bán ở chợ. Khói bụi mù trời, cuồn cuộn bốc lên hầm hập. Cách xa cả ba bốn trăm mét, còn nghe thấy tiếng răng rắc cháy thành than của những khung trần đà gỗ khu nhà mặt tiền quanh chợ. Tiếng lửa nghe rào rào, khét lẹt. Ngọn lửa phát ra từ khu sạp vải, cháy lan nhanh đến mức không ai trở tay kịp. Những sạp hóa chất gần đó làm mồi bắt lửa nhanh khiến cả chợ chìm trong biển lửa.

Lúc đó, trên trời xuất hiện chiếc trực thăng vận tải CH-47 Chinook, bên dưới là chiếc gàu đôi bằng sắt to dùng để múc nước chữa cháy ở các căn cứ quân sự nằm gần sông rạch. Chiếc gàu to có thể chứa ba bốn khối nước. Chiếc Chinook xuất phát từ căn cứ quân sự phi trường Biên Hòa về Sài Gòn trợ giúp dập lửa vì Chợ Cầu Ông Lãnh nằm sát bờ rạch Bến Nghé, trực thăng bỏ gàu lấy nước dễ dàng và nhanh chóng tưới ập xuống đám cháy. Nhờ nguồn nước đổ xuống lớn, mạnh và phối hợp với lính cứu hỏa dưới đất nên ngọn lửa đã được dập tắt. Dân nội đô như ông bà hay cha mẹ tôi hồi ấy vẫn kể đó là lần đầu họ thấy trực thăng chữa cháy.

Hồi vụ cháy chợ Cầu Ông Lãnh lần 2 thì tôi đã 16 tuổi, ký ức lúc đó là cả thành phố như đổ dồn về hướng khu trung tâm. Ngày 13/4/1999, không khí lúc đó rất nóng bức, tin vụ cháy lan nhanh khiến nhiều người chạy về chợ Cầu Ông Lãnh để xem tình hình. Từ nhà tôi, chạy ra đó cũng chừng 15 phút. Khu chợ Cầu Ông lãnh hồi đó còn rất nhiều nhà sàn xây dựng bằng gỗ ọp ẹp nép mình theo dòng kinh Bến Nghé để sống đời gạo chợ nước sông. Từ chiều mãi đến hơn 10 giờ tối, khi ấy ngọn lửa mới được khống chế. Hơn 50 xe chữa cháy khắp thành phố được điều động về khu chợ Cầu Ông Lãnh với hàng trăm chiến sĩ giằng co với cơn lửa dữ. Thời điểm đó con số hơn 200 căn nhà cháy là một điều hết sức đau buồn. Đó cũng là trận cháy chợ gây nhiều thay đổi cho khu vực này.

Khoảng năm 2000, thành phố quyết định xây dựng lại Cầu Ông Lãnh để phù hợp với quy hoạch giao thông hiện đại. Ngày 30/4/2003 cây cầu mới chính thức khánh thành, mang diện mạo vững chãi, hiện đại hơn, nối liền hai quận sầm uất và rộng bắc ngang ra lộ Đông Tây. Cùng lúc với hệ thống chợ đầu mối mới ở Thủ Đức, Hóc Môn và Bình Điền được hình thành, thay thế vai trò thương mại truyền thống của chợ Cầu Ông Lãnh.

Khu vực này bây giờ đã dựng nên nhiều chung cư cao tầng, nhưng vẫn còn dấu tích chợ xưa. Hôm tôi tìm đến, hai bên hiên nhà dân nằm mặt tiền đường dẫn lên cầu, hoặc ngay gốc ngã ba Cô Giang - Nguyễn Thái Học cũng dăm ba thúng rau củ, vài sạp hàng bày bán, như níu kéo một ký ức cho khu Cầu Ông Lãnh nức tiếng của Sài Gòn. Và lạ kỳ, cũng chỉ toàn đàn ông đứng bán.

Tống Phước Bảo

Các tin khác

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.