Cù Huy Cận (1919 - 2005) là một chính khách, từng giữ nhiều chức vụ lãnh đạo trong Chính phủ Việt Nam như Bộ trưởng Bộ Canh nông (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa thông tin tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I, II, VII và VIII.
Với tư cách là một nhà thơ, Huy Cận là bút danh văn học của Cù Huy Cận - một thi sĩ xuất sắc trong Phong trào Thơ mới. Ông từng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1984 – 1995), Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Huy Cận được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996).
Nhà thơ Huy Cận sinh ngày 31/5/1919, năm 2026 là 107 năm ngày sinh của ông. Trong một bài thơ Huy Cận tự sự:
Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất bãi tơi làm da thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay.
“Miền sơn cước” ấy là xã Ân Phú (vốn thuộc Hương Sơn, sau về huyện Đức Thọ rồi Vũ Quang), nay là xã Mai Hoa, tỉnh Hà Tĩnh. Quê ông nằm dưới chân núi Mồng Gà, trước mặt là sông Ngàn Sâu, một nhánh tạo nên sông La. Ân Phú, gốc chữ Hán nghĩa là “thịnh vượng”, “giàu có”. Thực tế, do tính chất “sơn cước” (ở chân núi) nên Ân Phú ít ruộng thành ra nghèo. Cảnh nghèo đó đã làm Xuân Diệu, người bạn tri âm, tri kỷ của Huy Cận, phải thốt lên: “Cái làng nửa sơn cước, khuất nẻo bên sông vắng… chao ôi! Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 sao mà vắng vẻ, hiu hắt đến thế! Nếu không thương bạn chưa chắc tôi đã về”. Vì vậy, cái tên Ân Phú không gì khác hơn là ước mơ thoát nghèo cháy bỏng của con người xứ “nác” nơi đây.
Thế kỷ 20, quê hương Ân Phú tự hào có Huy Cận - người ở “tuyến đầu” của cả hai cuộc “cách mạng”: Thi ca và Giải phóng dân tộc. Đây cũng là nguyên nhân, sau này ông là nhà thơ được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (năm 2005).
Huy Cận có may mắn được sinh ra trên đất Hà Tĩnh, còn gọi là đất Lam Hồng có sông Lam - núi Hồng Lĩnh. Có thể nói người Hà Tĩnh được cho là có khiếu làm thơ bắt nguồn từ việc người Hà Tĩnh nói “nôm” rất hay tiếng Việt cổ. Điều này cũng dễ hiểu vì đất Lam Hồng là đất Việt Thường, gốc của nước Việt. Điều này giải thích vì sao những tuyệt văn của thế kỷ 18, “một thời đại trong thi ca” nếu mượn chữ của Hoài Thanh, đa phần thuộc về các tác giả đất Lam Hồng - “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự, “Mai Đình Mộng Ký” của Nguyễn Huy Hổ, ca trù (còn gọi là hát nói hay hát ả đào, hát cô đầu) của Nguyễn Công Trứ…
Tiếp đến, đó là công lao của Xuân Diệu, người bạn cùng quê Hà Tĩnh, dẫu “cha ở đàng ngoài mẹ ở đàng trong” - (Thơ Xuân Diệu). Nhà thơ Huy Cận kể rằng, nhà thơ Xuân Diệu có “con mắt xanh” trong phê bình thơ nên hầu hết thơ của Huy Cận trước khi gửi đăng báo hay in sách, ông đều đưa Xuân Diệu đọc để góp ý.
Huy Cận thường ngày cứ 3, 4 giờ sáng là dậy để làm thơ và cứ được bài thơ nào là ông lại đi xuống phòng Xuân Diệu nhờ góp ý. Những lúc ấy, Xuân Diệu biến cái ghế xếp thành ghế “khảo thí”. Còn Huy Cận lẳng lặng lấy một chiếc ghế tựa đặt phía sau cái ghế xếp để ngồi đọc bài thơ vừa “ra lò”. Xuân Diệu mắt nhắm nghiền, im nghe. Chốc chốc ông lại bình, lại sửa, giọng sang sảng mà mắt vẫn nhắm. Được cái Huy Cận không bao giờ “cãi”, cứ lẳng lặng chữa thơ theo ý Xuân Diệu. Xong, ông đọc lại cho Xuân Diệu thẩm định một lần nữa và cứ thế cho đến câu thơ cuối. Trong bài thơ “Ngôi nhà 24 Điện Biên Phủ”, Huy Cận đã không giấu giếm vai trò “khảo thí” ấy của Xuân Diệu.
Đêm đêm trên gác đèn chong,
Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay.
Dưới nhà bút chẳng rời tay
Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ,
Bạn từ lúc tuổi còn tơ,
Hai ta hạt chín chung mùa trái trong.
Ánh đèn trên gác, dưới phòng,
Cũng là đôi kén nằm trong kén trời.
Sinh thời, Huy Cận rất tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, ông say mê tổng kết, phát hiện những vẻ đẹp tinh thần dân tộc:
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thật: sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa.
Huy Cận từng được các nhà lý luận phê bình gọi là “nhà thơ vũ trụ” (Hoài Thanh - Hoài Chân), ông là nghệ sĩ của ngôn từ. Trong sáng tạo nghệ thuật, Huy Cận đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tình cảm, ông coi tình cảm là một sáng tạo lớn của con người và chính tình cảm là cái gốc của nghệ thuật. Ông cho rằng, thơ phải xuất phát từ những “rung cảm từ cuộc đời, từ máu thịt của cuộc sống thì mới thực sự có tình cảm và tư tưởng lớn bật lên trong thơ”.
Trước hết, theo quan điểm của Huy Cận, “Rung động làm ra thơ, làm ra nghệ thuật”. Theo ông, “Câu sẽ đến sau, lời sẽ đến sau. Nhưng trước hết là một nỗi niềm ùn ùn trước ngực, rạo rực tâm hồn”. “Thưởng thức thơ là phải biết sống lại quá trình ấy, quá trình từ nỗi - niềm - tinh - vân đọng lại thành từng ý, từng lời, từng câu, từng chữ”. Cho nên theo ông, người thưởng thức thơ ít nhiều cũng phải có hồn thơ là như vậy.
Là một “nghệ sĩ của ngôn từ”, là người sáng tạo, Huy Cận cho rằng, nghệ thuật là niềm vui lớn nhất, là sự khắc phục những mâu thuẫn của con người, là tiếng chim gọi đàn, là tiếng gà gáy sáng. Là phương tiện cảm thông với vũ trụ, là tâm hồn đang vận động... Với lao động của các nhà văn, nhà thơ, sinh thời, ông cho rằng, “phải vật lộn, trầy xương với cái vật chất của chữ, của vật liệu, của màu sắc, của âm thanh, làm cho cái vật chất ấy chịu nói cái tâm hồn mà anh cảm thấy đang hình thành, mà không có vật chất ấy thì tâm hồn kia cũng không hình thành được”.
Có thể hiểu, theo Huy Cận, về lao động nghệ thuật phải có vị mặn của mồ hôi, của nước mắt và có cả đường gân thớ thịt và nếp nhăn của nghệ sĩ trong lao động. Như vậy, dù là một bài thơ, bài thơ đó cũng phải là một sinh thể hòa quyện giữa vật chất và tinh thần, giữa nội dung và hình thức.
Huy Cận nói rằng, thơ là thơ, và thơ bừng lên một cảm xúc tổng thể, nó làm rung động cả trái tim, cả trí óc, cả cơ thể con người. Theo ông, không phải là trong thơ không có yếu tố trí tuệ. Trong sự xúc cảm tổng thể của thơ, có sự rung cảm của trí tuệ.
“Thơ có thể, và nên chứa đựng tư tưởng, nhưng tư tưởng ấy phải thật sự bật lên từ máu thịt của cuộc đời, chứ không phải từ một sự nặn óc của nhà thơ để gọi là có tư tưởng”. Tư tưởng và tình cảm lúc ấy trở thành nhụy thơm của loài hoa trong tự nhiên, chứ không phải là “nhụy vờ” của các loại hoa giấy, hoa nilon.
Từ cách nhìn đó, Huy Cận cho rằng: “Theo tôi từ nay nên xóa bỏ khái niệm thơ trí tuệ trong văn học, vì nó gây ra nhận thức nhầm lẫn về thực chất của thơ”.
Từ sáng tác đến lý luận phê bình cho thấy những suy nghĩ về nghệ thuật của Huy Cận thường xuất phát từ những hiện tượng cụ thể. Nhìn trẻ con chơi trò làm nhà, xếp hình, ông nghĩ về “kiến trúc, nghệ thuật của không gian, nghệ thuật của ánh sáng nữa”; khi xem múa rối, ông nghĩ đến “cái liều lượng thực, hư trong nghệ thuật để nói sự thật của cuộc đời phải được cân nhắc tinh vi, bằng cân tiểu ly của thẩm mỹ”; nhìn trẻ con học hát, ông phát hiện ra “tiếng hát là một quy luật, một yêu cầu tự nhiên của cơ thể con người. Tiếng hát giải phóng cơ thể, giải phóng tâm hồn”.
Nhà thơ Lê Đạt (1929 – 2008), sinh thời là một người bạn vong niên của Huy Cận, từng nói: “Với đa số chữ là tình nghĩa. Với nhà thơ chữ là tình yêu”. Bản chất của tình yêu là dâng hiến, Huy Cận là thế!