Huy Cận sửa thơ

Huy Cận là một trong những nhà thơ rất khó tính trong việc sáng tác. Ông viết ra một bài thơ không lâu, có khi chỉ ít phút nếu cảm xúc dồi dào; nhưng đẽo gọt, tu chỉnh cho hoàn thiện thì mất rất nhiều thời gian, có khi cả tháng. Tôi chứng kiến và nhớ mãi mấy lần ông sửa thơ.

Huy Cận (1919 - 2005) là nhà thơ lớn, cùng với Xuân Diệu là hai thi sĩ chủ chốt của phong trào Thơ Mới (1932-1945). Những tập thơ nổi tiếng của ông là “Lửa thiêng”, “Vũ trụ ca”, “Kinh cầu tự” (trước Cách mạng Tháng 8), “Trời mỗi ngày lại sáng”, “Đất nở hoa”, “Bài thơ cuộc đời”, “Chiến trường gần đến chiến trường xa” (sau hòa bình năm 1954), “Hai bàn tay em” (tập thơ dành cho thiếu nhi)...

Huy Cận sửa thơ -0
Nhà thơ Huy Cận.

Ngoài tư cách một nhà thơ lớn, ông còn là chính khách với chức Bộ trưởng Bộ Canh nông ngay từ năm 1946 khi mới 27 tuổi, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các hội Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, đại biểu Quốc hội nhiều khóa, viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Ông được tặng Huân chương Sao vàng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật ngay từ đợt đầu tiên.

Huy Cận là một trong những nhà thơ rất khó tính trong việc sáng tác. Ông viết ra một bài thơ không lâu, có khi chỉ ít phút nếu cảm xúc dồi dào; nhưng đẽo gọt, tu chỉnh cho hoàn thiện thì mất rất nhiều thời gian, có khi cả tháng. Tôi chứng kiến và nhớ mãi mấy lần ông sửa thơ.

Những năm 80 của thế kỷ trước, tôi làm việc ở Báo Văn hóa - Nghệ thuật (cơ quan ngôn luận của Bộ Văn hóa - Thông tin cũ) có trụ sở ở số nhà 26 phố Điện Biên Phủ (quận Ba Đình, Hà Nội). Huy Cận sống ở ngay bên cạnh, tức số nhà 24 phố này. Một lần, vào khoảng tháng 12 dương lịch, chúng tôi đang chuẩn bị số báo Tết Nguyên đán thì tôi được đồng chí Tổng Biên tập Mai Thúc Luân gọi vào phòng làm việc của ông. Vào, tôi thấy ông đang tiếp nhà thơ Huy Cận. Tổng Biên tập hỏi tôi:

- Chắc Nguyễn Đình San đã biết nhà thơ Huy Cận?

Tôi chào nhà thơ lớn. Ông Luân giới thiệu tôi với nhà thơ:

- Còn đây là anh Nguyễn Đình San, nhạc sĩ, biên tập trang nghệ thuật của báo.

Rồi Tổng Biên tập nói với tôi:

- Báo ta lâu nay chỉ đăng ca khúc chứ không đăng thơ, truyện. Nhưng năm nay, nhà thơ Huy Cận có một chùm thơ ngắn về mùa xuân, mình thấy hay nên phá lệ. Vậy cậu chịu trách nhiệm lo phần thơ, chọn thêm các bài hay khác nữa cho đủ một trang. Vì là số Tết nên cậu lưu ý chọn thơ phải hay, lại của những nhà thơ nổi tiếng một chút.

Huy Cận nói luôn:

- Phải ưu tiên chất lượng lên hàng đầu. Chứ nổi tiếng mà dở thì cũng chẳng nên đăng. Phải từ xa lạ rồi mới thành nổi tiếng được chứ. Ngay chùm thơ của mình, các ông thấy dở thì cứ nói, chớ đăng, để mình đưa thêm cho các ông chọn. Nổi tiếng mà thơ dở, cho đăng thì chỉ làm mất uy tín của nhà thơ mà thôi.

Cầm chùm thơ ngắn 3 bài của Huy Cận do Tổng Biên tập đưa, tôi về đọc lại để soát xét chữ nghĩa, dấu má cho chuẩn xác chứ không nghĩ nhiều về chất lượng vì dù thế nào Tổng Biên tập cũng đã “ô-kê”. Tôi cũng phải gấp rút lo thêm gần chục bài thơ nữa cho đủ một trang báo vì sắp hết hạn nộp bài để Thư ký tòa soạn lên trang.

Mấy hôm sau, Huy Cận lại sang gặp tôi yêu cầu sửa lại vài chữ ở cả 3 bài. Tôi thấy ông sửa đúng là hay hơn trước. 2 bài ông sửa một hai chữ, 1 bài ông cắt hẳn đi một khổ. Tôi nộp cho Trưởng ban Biên tập. Khi báo đã, lên khuôn, chỉ còn đưa xuống nhà in thì Huy Cận lại sang gặp tôi lần thứ hai, yêu cầu để ông sửa tiếp. Lần này ông chỉ sửa một từ ở một bài. Tôi thấy hơi phiền vì việc biên tập coi như đã khép lại, bây giờ lại dở dói ra. Chưa biết chừng báo đã chuyển xuống nhà in cũng nên. Hơn nữa, lần này tôi thấy ông thay chỉ một từ nhưng cũng không thật đích đáng, không hơn trước nhiều. Tất nhiên, tôi không thể nói với ông như vậy mà chỉ nói:

- Thưa anh, để em hỏi xem báo đã chuyển xuống nhà in chưa đã. Nếu chuyển xuống rồi thì đành chịu.

Tôi không ngờ ông nói:

- Nếu chuyển xuống rồi thì cho mình biết in ở đâu để mình xuống tận nơi. May ra còn phải xếp hàng chờ. Chỉ đành phải chịu khi báo đã in.

Huy Cận sửa thơ -1
Nhà thơ Huy Cận và nhà thơ Ngô Thế Oanh (bên trái). Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Như vậy có nghĩa là ông quyết tâm sửa bằng được. Tôi đành chiều mà nói ông chờ để tôi hỏi xem báo đã đưa xuống nhà in chưa. May quá, vẫn chưa chuyển xuống nhà in. Ông rất vui khi được thỏa mãn nguyện vọng.

Từ đó, cứ đến số Tết là Báo Văn hóa – Nghệ thuật lại đăng thơ và tôi được trao nhiệm vụ biên tập.

Đó là lần thứ nhất Huy Cận tự sửa thơ mình. Lần thứ hai cũng là những năm 1980 - 1981 gì đó, tôi không nhớ thật rõ. Tôi được nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi khi đó là người làm chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam (phát vào 22 giờ đêm chủ nhật hằng tuần) mời đến ngâm mấy bài thơ trong đó có bài “Quạt cho con ngủ” của Huy Cận. Nhà thơ lớn cũng được anh Vợi báo cho biết và đã đến dự. Ngâm xong lần thứ nhất, tôi ra khỏi phòng thu nghỉ vài phút để ngâm lại lần thứ hai thì Huy Cận đề nghị sửa lại 2 câu đầu tiên: “Con ngủ đi con, bố nằm bố quạt/ Bố viết bài thơ vừa nghĩ ban chiều” thành “Con ngủ cho ngoan, bố nằm bố quạt/ Bố nghĩ bài thơ vừa đến ban chiều”. Ông nói rằng trước hết mấy chữ “con ngủ đi con” quá bình thường, chỉ là lời bố dặn con. Sửa lại là “con ngủ cho ngoan” hay hơn, tình cảm hơn. “Ngoan” lại có vần với “quạt”. Câu sau: “Bố viết bài thơ” không ổn. Đang nằm quạt cho con ngủ thì viết thế nào? Tôi ngâm đúng theo văn bản. Huy Cận sửa tại chỗ, ngay sau khi nghe tôi ngâm mà trước đó, ông không nghĩ ra. Mọi người từ biên tập viên, người ngâm thơ đến các công nhân thu thanh đều thấy ông sửa lại chuẩn hơn.

Bài này trước đó, NSND Trần Thị Tuyết đã ngâm. Huy Cận khen chị Tuyết ngâm rất hay, ngọt ngào, chải chuốt nhưng nghe tôi ngâm thì thính giả rất xúc động, có cảm giác như cảnh “gà trống nuôi con”, có cái gì đó tội nghiệp, rất thương.

Kỷ niệm thứ ba về việc Huy Cận sửa thơ diễn ra trước hai lần trên. Lần này ông sửa thơ cho tôi. Đó là khoảng năm 1973. Khi ấy, tôi cư trú ở xóm Khương Trung, lúc đó thuộc khu Đống Đa, Hà Nội (ngày đó gọi là “khu” chứ không “quận” và sau này nơi đây thuộc quận Thanh Xuân). Tôi có người bạn, hàng xóm thân thiết là Cù Huy Chử - em ruột nhà thơ Huy Cận. Anh Chử lúc đó là giáo viên dạy văn một trường cấp 3 ở Hà Nội. Nhà chúng tôi chỉ cách nhau mấy trăm mét nên cứ rảnh là lại sang nhau chơi, đàm đạo về văn chương, thơ phú. Một hôm, đúng lúc đang như vậy thì Huy Cận xuống chơi với chú em. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với thi sĩ lớn, tác giả bài thơ nổi tiếng “Các vị La Hán chùa Tây phương” mà trước đó chỉ biết ông qua ảnh trên báo chí. Anh Chử giới thiệu tôi và cho anh mình biết tôi cũng đang là giáo viên dạy văn ở một trường đại học.

- Bạn em đây cũng làm nhiều thơ. Nhiều bài khá lắm anh ạ.

Huy Cận nói tôi đọc cho ông nghe một bài nào đó. Tôi xin phép đọc một bài thơ tình ngắn, chỉ có 4 câu vừa sáng tác: “Chiếc hôn khi rụng bên thềm/ Đôi ta cùng cháy một niềm thương đau/ Để rồi hàng triệu năm sau/ Ta còn bỏng vết môi nâu của nàng”. Tôi đọc xong, ông khen:

- Khá đấy. Tứ thơ bạo liệt. Hôn mà rụng bên thềm thì kinh khủng đó. Vết môi nâu cũng độc đáo. Nhưng cậu cần sửa một chữ. Đó là thay từ “niềm” bằng “miền” sẽ hay hơn nhiều. “Đôi ta cùng cháy một miền thương đau” hay hơn hẳn, đúng không? “Niềm thương đau” quá bình thường. “Miền thương đau” thì có ý nghĩa địa lý, không gian. Không biết cái thương đau ấy lan rộng như thế nào.

Tôi thấy ông sửa lại như vậy - chỉ một từ - mà hay. Từ đó, đọc bài thơ này ở đâu hoặc in ở báo nào, tôi đều lấy chữ “miền” của ông. Ai cũng khen bài này hay, có giá trị chính là ở chữ “miền” này. Tôi không thể không khai đó là chữ của Huy Cận chứ không phải của tôi. Quả là một nhà thơ tài năng lớn, chữ nghĩa ông sử dụng luôn rất “đắt”.

Lần gặp ông đến dự buổi thu thanh bài thơ “Quạt cho con ngủ” nói trên, tôi đã kể lại kỷ niệm gặp ông lần đầu ở nhà người em ruột của ông và việc ông sửa cho tôi một chữ. Ông vẫn nhớ và nói:

- Mình nhớ chứ. Cái bài thơ ấy có giọng điệu rất Xuân Diệu. Chắc cậu thích thơ tình của Xuân Diệu nên ảnh hưởng. Thơ tình anh Xuân Diệu bạo ngôn, luôn tới tận cùng của sự mê đắm.

Giờ đây, mỗi khi đi qua số nhà 24 đường Điện Biên Phủ (Hà Nội), tôi lại nhớ Huy Cận với mấy lần sửa thơ thật thú vị như trên.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.