Khi nhà thơ Huy Cận làm thơ vui

Sau cách mạng 1945, nhà thơ Huy Cận làm thơ... vui. Ngay tên các tập thơ đã xuất bản của ông đã nói lên điều đó: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958); “Đất nở hoa” (1960); “Bài thơ cuộc đời” (1963)... Có hai bài thơ nổi tiếng của ông được ngâm thường xuyên trên Đài Tiếng nói Việt Nam dạo đó là bài ông viết về những pho tượng chùa Tây Phương và bài về Ngã ba Đồng Lộc.

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...” thi sĩ Xuân Diệu đã viết như vậy về người bạn thơ của mình. Nhưng, cái sầu của Huy Cận là cái sầu “Thiên cổ”:

Một chiếc linh hồn nhỏ
Mang mang thiên cổ sầu

Hoài Thanh đã trích hai câu thơ này của Huy Cận trong tập “Lửa thiêng” và ông đã bình về Huy Cận: “ ...Cái buồn "Lửa thiêng" là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. Có người muốn làm thơ phải tìm cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã có sẵn trong lòng...”.

Trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đặt Xuân Diệu trước Huy Cận, nhưng tôi vẫn thích thơ Huy Cận hơn.

Tôi nhớ tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 5, mấy anh em nhà văn, nhà thơ cùng quê Hà Tĩnh vây quanh ông trò chuyện. Hình như có cả nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát thì phải. Hồng Ngát đọc “Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây” và nói: “Anh Huy Cận lãng mạn quá, yêu quá đi thôi...”. Mọi người hỏi ông có phải một dạo người ta phê bình ông làm thơ buồn không hợp với cuộc sống mới...! Ông cười không nói gì! Tôi bảo: “Người có tài thơ như anh Huy Cận không những làm thơ buồn quá hay mà khi anh làm thơ vui cũng rất hay!”. Rồi tôi đọc câu thơ của ông trong bài thơ đã đưa vào sách giáo khoa dạo đó: “Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm ...”. Ông cầm tay tôi và nói: Cảm ơn Dương Kỳ Anh nhé, cảm ơn!

2016-06-14-17.18.jpg -0
Nhà thơ Huy Cận tại đại hội VI Hội nhà văn Việt Nam.

Mấy hôm nay trời trở lạnh, mưa, ở một mình tại nhà vườn Sóc Sơn, tự nhiên trong tôi ngân lên những câu thơ của nhà thơ Huy Cận trong bài thơ “Buồn đêm mưa”:

Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trông hồn
Những chân xa vắng, dặm mòn lẻ loi
Mưa rơi... dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ, nối lời vu vơ...

Tôi lại nhớ những kỷ niệm về ông. Sinh thời, có khá nhiều giai thoại về ông, tôi cũng nghe nói nhưng không tiện hỏi. Có lần con trai ông Cù Huy Hà Vũ đến gặp tôi ở tòa soạn Báo Tiền Phong đưa tận tay cho tôi một bài viết. Chả là dạo ấy Cù Huy Hà Vũ thường qua phòng biên tập tờ Tiền phong Chủ nhật chơi và có viết một số bài cho báo. Tôi đọc bài Cù Huy Hà Vũ gửi và sững sốt... Giờ đã khá lâu, tôi không nhớ cụ thể lắm, đại khái là bài báo nói căn nhà của Xuân Diệu sau khi nhà thơ qua đời và Cù Huy Hà Vũ là con nuôi của Xuân Diệu muốn dùng căn phòng đó làm nơi lưu giữ các hiện vật của Xuân Diêu, nhưng...

Nếu đăng bài báo đó hóa ra là con trai “kiện” bố mình, mà người bố đó chính là Huy Cận không những là nhà thơ nổi tiếng mà còn là một nhận vật lịch sử, ông đã thay mặt Chính phủ Cụ Hồ vào Huế tước ấn kiếm của vua Bảo Đại... Năm 26 tuổi, nhà thơ Cù Huy Cận đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ Cụ Hồ; Rồi ông làm Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hóa Thông tin của Chính phủ, Sau đó ông là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Năm 2001, ông được phong là viện sĩ viên Hàn lâm thơ thế giới.

Nếu không đăng bài báo kiểu “kiện cha” này thì sẽ xử lý thế nào đây? Cù Huy Hà Vũ có thể kiện chúng tôi... Nên tôi bàn với Trưởng ban biên tập đến gặp đại diện quản lý nhà đất của thành phố Hà Nội để họ trả lời và đăng lên báo!

Khi báo chưa lên khuôn, đã thấy thường trực gọi lên bảo nhà thơ Huy Cận đến gặp... Tôi mời ông vào phòng làm việc. Ông nắm lấy tay tôi nói: Dương Kỳ Anh ơi, đừng đăng nhé, thôi nhé, chuyện trong nhà, chuyện buồn lắm, khó nói lắm... Dương Kỳ Anh thông cảm nhé, đừng đăng, đừng đăng...!

Sau đó ít lâu ông đến tận tòa soạn gửi cho tôi một bài thơ ông mới viết. Tôi định đăng trên Báo Tiền phong Chủ nhật. Hôm sau đã thấy ông dừng xe ở ngoài cổng tòa soạn và hỏi tôi lúc nào đăng. Báo đăng, ông lại đến bảo: Dương Kỳ Anh ơi, cho mình xin tờ báo! Tôi gửi ông mấy tờ Báo Tiền Phong Chủ nhật, ông cầm tay tôi lắc lắc nói: Cảm ơn Dương Kỳ Anh, cảm ơn nhé... Tôi thường bảo với mấy nhà thơ trong báo: Các bạn thấy chưa, một nhà thơ nổi tiếng như vậy mà vẫn rất quan tâm dù chỉ là một bài thơ đăng trên báo... Nhà thơ chân chính là phải như vậy, yêu thơ, quý trọng từng câu từng dòng chữ mình viết ra ...

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh theo tôi là nhà phê bình tinh tế số một Việt Nam đã viết: “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc...”. Đúng vậy, những cảnh vật mà chúng ta thường bỏ qua lại chính là “châu ngọc” trong thơ Huy Cận:

Đường trong làng, hoa dại với mùi rơm
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng
Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng...

                                     (Đi giữa đường thơm)

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu muôn ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hưu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu...

                                      (Tràng giang)

...Chiều mưa trên bãi nước sông đầy
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.
..

                                          (Vạn lý tình)

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ... Anh hầu quạt đây...

                                           (Ngậm ngùi)

Sau cách mạng 1945, nhà thơ Huy Cận làm thơ... vui. Ngay tên các tập thơ đã xuất bản của ông đã nói lên điều đó: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958); “Đất nở hoa” (1960); “Bài thơ cuộc đời” (1963)... Có hai bài thơ nổi tiếng của ông được ngâm thường xuyên trên Đài Tiếng nói Việt Nam dạo đó là bài ông viết về những pho tượng chùa Tây Phương và bài về Ngã ba Đồng Lộc. Huy Cận làm thơ vui cũng rất hay, nhưng khi ông làm thơ vui, trong cuộc sống hàng ngày của ông lại có những chuyện buồn như chuyện tôi vừa kể!

Nhớ lần Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh tổ chức buổi giao lưu thơ, nhạc với những người Hà Tĩnh đang sinh sống ở Thủ đô Hà Nội. Tôi cũng được mời đến đọc thơ. Khi tôi bước vào hội trường đã thấy mọi người đang vây quanh nhà thơ Huy Cận ngồi ở hàng ghế đầu. Ông rất yếu, không lên đọc thơ mà được một nghệ sĩ lên ngâm thơ của ông. Đến lượt tôi sau khi đọc xong thơ, có mấy người lên tặng hoa, chúc mừng. Tôi ôm bó hoa đẹp nhất xuống hàng ghế đầu chỗ nhà thơ Huy Cận ngồi cúi đầu chào và tặng ông. Ông ngước nhìn tôi, cái nhìn mệt mỏi.Một lúc, ông mới nhận ra tôi, ông ra hiệu cho tôi ngồi xuống cạnh ông và nói: “Kỳ Anh... Dương Kỳ Anh”.

Tôi đâu ngờ đó là lần gặp ông cuối cùng. Sau đó không lâu ông đã ra đi, đi về cõi vĩnh hằng ...

Sóc Sơn 12/2020

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.