Những kỷ niệm ân tình với "thi sĩ của mùa xuân và tình yêu"

Quan điểm sống của Xuân Diệu rất rõ ràng: Sống là để làm việc có ích cho đời. Ông ví mình như một quả cam: "Cái quả cam này đà vắt hết / Hiến cho non nước, hiến người thân". Và: "Tôi là một trái cam, hãy vắt kiệt lấy nước của nó - đó là những dòng thơ tôi".

Dạo ấy vào một ngày cuối xuân, tôi ở trong nhóm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam lên tỉnh miền núi Yên Bái làm tin, ảnh chuyên đề về đề tài nông nghiệp - cuộc vận động đồng bào vùng cao định canh định cư. Tại nhà khách của UBND tỉnh, chúng tôi gặp nhà thơ Huy Cận (bấy giờ đương chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá).

Vốn thích văn học, yêu thơ nên với tôi đây là một dịp may hiếm có. Ở nhà khách, chúng tôi có nhiều dịp đàm đạo với nhà thơ. Khi chia tay, Huy Cận dặn khi nào về Hà Nội thì nhớ ghé nhà chơi. Ông đọc địa chỉ nhà mình bằng hai câu văn vần: "Nhà tôi hai bốn Cột Cờ/ Ai yêu thì đến, hững hờ thì đi".

Hết đợt công tác ở Yên Bái, trở về Hà Nội, vào một buổi tối, tôi đến thăm nhà Huy Cận. Vẫn dáng niềm nở có phần xuề xoà thường nhật, Huy Cận tiếp tôi ở phòng làm việc của nhà thơ Xuân Diệu. Ông giới thiệu tôi với Xuân Diệu. Thật may mắn, tôi được gặp cả hai nhà thơ lớn cùng một lúc trong khung cảnh rất gần gũi, thoải mái.

Nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Huy Cận thời trẻ.
Nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Huy Cận thời trẻ.

Chỗ ở của Xuân Diệu chỉ có một buồng - vừa là nơi ngủ, vừa là phòng làm việc, tiếp khách, phòng ăn. Giá sách lớn cũng ở đó. Về sau, tôi được biết trong căn phòng này còn có một ngách nhỏ chứa đồ vặt. Nơi đây có kê một chiếc bàn và một ghế băng. Những người đã trở nên thân quen (mà phần lớn là thanh niên) hoặc người tới sau có thể vào đây đọc sách mỗi khi nhà thơ bận tiếp khách quan trọng.

Tôi cũng đã mấy lần vào đây và được Xuân Diệu đưa cho đọc những quyển sổ thơ tình chép tay của ông mà chưa thấy công bố bao giờ. Rất nhanh, khoảng cách giữa chủ và khách chẳng còn, bởi Xuân Diệu nói chuyện tự nhiên; lời nói, cử chỉ thân mật, giảng giải cho nghe về thơ, kiến thức làm thơ. Ông chiếm được cảm tình và lòng mến mộ trong tôi ngay từ buổi đầu tiên gặp gỡ như thế.

Ít lâu sau, tôi được cử đi Cuba học tiếng Tây Ban Nha và văn học châu Mỹ Latinh. Thỉnh thoảng tôi vẫn dịch thơ gửi về đăng báo ở Hà Nội, trong đó có bài "Cây đàn ghita của Víchto Hara" (đăng trên báo Văn nghệ, nhạc sỹ Phan Nhân đã phổ nhạc bài thơ này của Phêlích Pita Rôđrighết thành bài hát cùng tên mà một thời được nhiều bạn trẻ Việt Nam yêu thích). Trở về nước, tôi sang giảng dạy văn học Mỹ Latinh ở Đại học Sư phạm 1 Hà Nội, vẫn tiếp tục dịch thơ gửi đăng trên tạp chí Tác phẩm mới do Xuân Diệu làm Tổng biên tập.

Một hôm, tôi nhận được thư của Xuân Diệu, nhắn ra nhà chơi và tham gia dịch thơ Nicôla Ghiden. Hôm sau, tôi đạp xe xuống 24 Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Xuân Diệu nói đại ý: Dịp sang thăm Cuba, anh Cù Huy Cận nhận với Nicôla Ghiden sẽ dịch và xuất bản tác phẩm của nhà thơ Mỹ Latinh này ở Việt Nam. Nhưng anh ấy bận công tác Thứ trưởng nên Xuân Diệu phải thực hiện lời hứa.

Ông đề nghị tôi, hàng ngày hết giờ làm việc ở trường thì tới nhà ông để dịch thơ, cố gắng để sau một tháng cho xong. Việc của tôi là đối chiếu bản dịch tiếng Việt với nguyên bản tiếng Tây Ban Nha (Xuân Diệu dịch qua bản tiếng Pháp). Tôi cũng dịch từ nguyên bản một số bài. Bản dịch nào không phải chữa thì đứng tên riêng. Còn bản nào Xuân Diệu phải gia công nhiều thì cuối bài dịch đề tên hai người, tên tôi đứng trước, rất sòng phẳng. Về dịch thơ, Xuân Diệu nêu quan điểm rõ ràng - đó là công việc của những nhà thơ.

Bài thơ dịch phải trung thành với ý của nguyên tác. Người dịch không được gò vần, tỉa tót, gọt đẽo quá mức mà thay đổi mất bài thơ. Ông lấy ví dụ cụ thể: Một bài thơ hay như thể thiếu nữ đẹp. Nếu trang điểm quá cầu kỳ tới mức loè loẹt... thì không còn là một phụ nữ đẹp nữa, có khi còn chẳng nhận ra đấy là phụ nữ.

Đọc thơ, Xuân Diệu nắm được tứ và thần thái tác phẩm rất nhanh; cho rằng tác phẩm của những nhà thơ lớn như N. Ghiden đều chứa đựng lôgich nghệ thuật nội tại. Từ ngữ trong bản dịch phải lột tả cho được điều ấy. Có thể lấy bài "Mía" làm một ví dụ: "Người da đen gắn mình trong đồng mía/ Tên Yăngki phởn phơ trên đồng mía/ Đất mỡ mầu lặng nằm dưới đồng mía/ Máu đỏ thắm chảy ra ngoài chúng ta!".

Hãy lưu ý những từ "trong", "trên", dưới", "ngoài" ở bản dịch của Xuân Diệu! Những ngày làm việc gần Xuân Diệu, tôi thấy ở ông một tấm gương về lao động nghệ thuật cần mẫn, sống chân thành, đôn hậu, chu đáo với hết thảy mọi người. Đêm nào Xuân Diệu cũng làm việc đến khuya. Món bồi dưỡng ban đêm thường là 1-2 quả trứng ngâm trong thuốc Bắc (do ông tự chế). Khi suy nghĩ và viết căng thẳng, ông có thói quen tự đấm tay lên đầu, miệng nói: "Đau óc quá!". Có lần nhà thơ bảo tôi: Thấy việc gì làm được thì cố gắng làm khi còn trẻ. Đến khi sờ lên đầu thấy nắm tuổi to thì khó làm lắm!

Quan điểm sống của Xuân Diệu rất rõ ràng: Sống là để làm việc có ích cho đời. Ông ví mình như một quả cam: "Cái quả cam này đà vắt hết / Hiến cho non nước, hiến người thân". Và: "Tôi là một trái cam, hãy vắt kiệt lấy nước của nó - đó là những dòng thơ tôi".

Xuân Diệu luôn sống hồn nhiên, như chẳng biết tới già nua bao giờ. Ông vui suốt buổi khi gặp một người dân bình thường thể hiện lòng quý trọng nhà thơ: Nhận ra thi sỹ Xuân Diệu đi mua hoa, bà lão bán hàng chọn giùm ông những bông hoa hồng đẹp nhất; người bán nước mía ven đường nhất quyết không lấy tiền một li nước mát biếu nhà thơ. Về nhà, ông hồ hởi kể với người thân: Mình đang còn có ích!

Thế rồi, ông lại ngồi vào bàn cặm cụi viết như chưa từng biết mệt mỏi là gì.

Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ lớn Xuân Diệu thể hiện một cách minh bạch quan niệm thế nào là hạnh phúc? - một câu hỏi lớn cho hôm nay và mai sau mà người đời chẳng dễ thống nhất cùng nhau!

Thật hiếm thấy nhà văn nào lại quý trọng lớp người viết văn trẻ như Xuân Diệu. Chưa thấy ai tới hỏi về thơ mà ông từ chối tiếp đón ân cần. Khách ra về, việc đưa tiễn là thói quen của nhà thơ; nhiều khi tiễn bạn văn tới tận gốc cây hoàng lan, hay bóng của vòm cây phía trên cổng rồi đứng lại đàm đạo hồi lâu. Như có sự sắp đặt trước của định mệnh, tác phẩm kỳ công cuối cùng của Xuân Diệu là bản tham luận "Sự uyên bác với việc làm thơ", được công bố tại Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ III vào sáng ngày 19/2/1985 ở Hà Nội (chỉ sau hơn mười tiếng đồng hồ, nhà thơ trút hơi thở cuối cùng ở bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô).

Cố nhà thơ Xuân Diệu.
Cố nhà thơ Xuân Diệu.

Trong bài viết này, thấy cần nói đôi dòng về một người phụ nữ (ít thấy được nhắc đến trong các bài viết về Xuân Diệu) mà nhiều năm tháng đã tận tình chăm lo cho đời sống của nhà thơ. Đó là U Khang. Bà hơn tuổi Xuân Diệu, từ nông thôn ra Hà Nội giúp việc cho nhà thơ đã lâu và sống cho đến cuối đời ở đây. Theo cách gọi của Xuân Diệu, chúng tôi đều gọi bà là U Khang.

Cứ tối tối, sau khi cơm nước xong, bà lại từ phòng riêng phía nhà bếp đi lên, lễ phép nói với Xuân Diệu: "Thưa bác! Ngày mai bác ăn gì?". Biết "thực đơn" (bao giờ cũng rất đơn giản), rồi nhận đủ tiền cho ngày mai sau khi tính toán tiền chợ hôm nay còn lại, bà vui khi thấy Xuân Diệu ăn ngon miệng và buồn khi trong nhà có chuyện chẳng lành. Ngày ấy còn chế độ bao cấp. Một hôm kẻ gian vào nhà lấy đi toàn bộ tem phiếu mua thực phẩm cung cấp của Xuân Diệu. Bà lo lắng, bới tìm khắp các xó nhà, tiếc mãi như chính mình bị mất tài sản quý.

Có một kỷ niệm mà cả gia đình tôi còn nhớ mãi: Nhà thơ Xuân Diệu đạp xe đến dự lễ cưới của chúng tôi tổ chức ở sân tập thể khối phố gần chợ Ngọc Hà. Món quà mà ông trao tặng thật là quý vô giá. Đó là hai bài thơ tình yêu do ông tự đọc trước hội hôn. Khi Xuân Diệu đọc thơ, rất đông bà con khu phố tới lắng nghe, vỗ tay tán thưởng hồi lâu. Trong số thính giả hôm ấy có cả những em bé chưa hiểu thơ nhưng cũng chạy tới để tận mắt mình được ngắm nhìn bác Xuân Diệu kính mến với tất cả lòng ngưỡng vọng thơ ngây.

Trong tháng dịch thơ Nicôla Ghiden, có đêm tôi phải nghỉ lại ở nhà Xuân Diệu vì đường về Cầu Giấy vừa xa, vừa vắng. Xuân Diệu tự tay lấy giường xếp, chăn màn cho tôi, dặn mắc màn cẩn thận kẻo muỗi đốt. Ông cũng không quên nhắc phải khoá xe đạp cho yên tâm. Sau đó ít lâu, mẹ tôi qua Hà Nội trên đường vào Nam thăm con gái - đang là giảng viên văn khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Biết tin, Xuân Diệu bảo tôi: "Mời cụ vào nhà nghỉ ngơi cho đỡ mệt rồi mai hãy lên tàu!". Mẹ tôi cứ xuýt xoa, cảm kích mãi trước thịnh tình ấy!

Năm 1981, tập "Thơ Nicôla Ghiden" được xuất bản tại Hà Nội (Nhà xuất bản Văn học). Với tôi, đây là một kỷ niệm đẹp và cũng là dịp học tập được nhiều điều ở nhà thơ lớn.

Xuân Diệu "Giã từ... cõi thực để vào hư" - như nhà thơ tự nói về mình trong bài thơ "Không đề", đến nay thấm thoát đã trên ba mươi năm. Người làm thơ và bạn đọc yêu thơ vẫn đọc thơ Xuân Diệu và luôn cảm nhận ở đó hương vị mùa Xuân và tình yêu.

Chu Huy Sơn - Xuân 2019

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...