Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: Người tụng ca phụ nữ bằng âm nhạc

Không phải ngẫu nhiên mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vẫn thường được đồng nghiệp phong cho danh hiệu “nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ”. Bởi trong những bài hát của ông, dù là tình khúc hay nhạc cách mạng, quê hương, luôn có dáng dấp người phụ nữ...

Chiều cuối năm, khi mùa xuân còn ngấp nghé ngoài thềm thì người nhạc sĩ già ấy đã cưỡi mây về trời. Ngoài kia, phố xá vẫn ồn ã – cái thanh âm mà bao lần ông muốn ngụp lặn, ôm lấy hít hà cho thỏa nỗi nhớ mong, cho cơn cô độc đừng bủa vây mình. Những ngày cuối đời, đã có lúc khi bệnh tật và thinh lặng giày vò, ông chỉ mong chóng về thế giới bên kia. Ở đó có những người phụ nữ thân yêu của ông, là mẹ, là vợ, là những nàng thơ mà một đời ông mãi mãi tôn thờ.

“Phụ nữ đẹp vô cùng”

Không phải ngẫu nhiên mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vẫn thường được đồng nghiệp phong cho danh hiệu “nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ”. Bởi trong những bài hát của ông, dù là tình khúc hay nhạc cách mạng, quê hương, luôn có dáng dấp người phụ nữ.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.

Có thể kể đến như: “Mẹ yêu con”, “Em đi làm tín dụng”, “Cô nuôi dạy trẻ”, “Bài ca phụ nữ Việt Nam”, “Dáng đứng Bến Tre”, “Dư âm”, “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa”, “Gương mặt Kiên Giang”, “Tiễn anh lên đường”, “Bài ca năm tấn”, “Tiếng hát bản Mèo”…  Dẫu là trong lửa đạn, dẫu là trên cánh đồng chang chang nắng, hay ở lớp học…,  họ - từ già đến trẻ - đều hiện lên đầy cao đẹp.

Sinh thời, dù bệnh tật, đi lại vất vả, nhưng hễ nhắc đến những “bóng hồng” để lại dấu tích trong nhạc phẩm của mình, đôi mắt nhạc sĩ già lại hấp háy. Ông kể về họ với một giọng trìu mến, ấm áp của chàng nhạc sĩ si tình năm nào: “Tôi luôn tôn thờ phụ nữ. Với tôi, họ luôn đẹp, vẻ đẹp tinh khiết từ dung mạo bề ngoài đến cái nết bên trong. Có lẽ những bóng hồng đi qua đời tôi đều quá tuyệt vời, mà người đầu tiên tôi mãi biết ơn và tôn kính là bà mẹ tảo tần của mình”.

Bà Lê Thị Thang – mẹ của nhạc sĩ, mang vẻ đẹp hồn hậu của một cô gái quê. Chồng mất sớm, một mình bà Thang phải gánh gồng nuôi bầy con nheo nhóc. Dáng mẹ gầy và gánh muối oằn trĩu trên bờ cát trắng đi vào bài hát “Đường về Hộ Độ” với xúc cảm thiêng liêng của một người con: “Ngày xưa Mẹ đi về Hộ Độ/ Mua được muối mang về không đi bằng đường bộ mà phải theo đò vượt biển khơi sóng vỗ/ Bao đêm mất ngủ, mới đưa được muối về/ Ôi con đường xưa sao mà trắc trở, cũng vì con nhỏ bao gian khổ cũng không nề…”.

Từ hình ảnh người mẹ quá cố, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thương thân phận má hồng, yêu vẻ đẹp đôn hậu, giản dị, thanh khiết của họ. Thuở đôi mươi, ông được mai mối với cô gái dệt vải ở Thanh Chương. Hỏi thăm mãi, ông mới tìm được mái nhà lá đơn sơ khép mình ven sông, nơi ngày ngày cô gái đưa thoi dệt vải. Một hồi trò chuyện vòng vo, ông lấy hết can đảm tỏ tình.

Cô gái nghe xong, quay mặt nhìn ông rồi tủm tỉm cười, không đáp lời nào. Ông ra về, buồn bã như kẻ bại trận. Rồi từ đó ông về Hà Nội, không một lần ghé lại bến sông xưa. "Ai hôm nay ra khơi buông lưới. Mà nhìn chi mãi con tàu vào bờ. Nhìn bến cảng lại nhớ ngày xưa. Thương con đò cắm con sào đứng đợi" - câu hát trong “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, một trong chùm tác phẩm vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trong đợt trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000, khắc họa hình ảnh người con gái ấy.

“Tôi đâu ngờ nụ cười tủm tỉm ngày đó là cái gật đầu đồng ý. Sau này, một người quen của cô ấy ở Hà Nội bảo với tôi rằng: “Anh có một cái tội rất lớn. O tôi đã chờ anh gần 20 năm, ai hỏi cũng bảo đã có chồng. Vì một chữ thương, cả tuổi xuân đánh đổi chỉ để chờ đợi một người con trai không ước hẹn” – nhắc lại, ông chỉ thấy nỗi ân hận giày vò.

Người vợ đầu Mai Thị Cúc và vợ hai là bà Bạch Lê đều là người ông hết mực yêu thương bởi cốt cách hiền thục, đảm đang. Nhưng duyên tình của ông sao lắm lận đận. Duyên cầm sắt chưa lâu, cô thôn nữ Mai Thị Cúc vội vã từ giã cõi trần khi đứa con gái đầu lòng mới được ba tháng tuổi. Năm 2004, bà Bạch Lê cũng về cõi vĩnh hằng. Trên bàn thờ, lư hương dán một mảnh giấy nắn nót những dòng chữ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “Nguyễn Thị Bạch Lê, người vợ thân yêu. Đã qua đời lúc 5g20 chiều, ngày 31 tháng 12 năm 2004…”. Cạnh đó, lư hương của người vợ cả cũng nắn nót dòng chữ đầy thương nhớ như thế: “Maria Mai Thị Cúc, người vợ đầu của tôi. Đã qua đời tối ngày 28 tháng 2 năm 1947 ở Vinh sau một năm sống với chồng con”.

Chuyện ít biết về “Dư âm 2” và ca khúc cuối cùng

Nhắc đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, ngoài những bài hát về quê hương, đất nước, nhiều người nhớ tới ngay những giai điệu ảo huyền của “Dư âm” - bản tình ca đầu tiên làm nên tên tuổi ông sau này. Nhưng có lẽ, ít người biết nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý từng sáng tác “Dư âm 2” (tên khác là “Một ánh sao trời”).

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và bà Bạch Lê thời trẻ (1952).
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và bà Bạch Lê thời trẻ (1952).

Bản nhạc nên thơ lặp lại chuyện tình mộng mị và tan vỡ như khói sóng, để lại cho ông chuỗi dư âm ngân dài, đầy tiếc nhớ… “Một ánh sao trời ở giữa cuộc đời/ Ánh sao trần thế chiếu vào tim tôi/ Đây là ánh sao hay giọt sương rơi/ Vì đâu lấp lánh, vì đâu chơi vơi/ Tôi chưa kịp hỏi ánh mắt đâu rồi/ Mà sao trần thế tiếng đàn buông lơi/ Để dư âm vang mãi trong tiếng em cười/ Để tôi thương nhớ một đời riêng tôi…”.

Một ngày năm 1988, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bị cảm sốt. Ông ghé quán tân dược trên đường Hai Bà Trưng (TP Hồ Chí Minh) để mua vài liều thuốc. Bỗng người ông run rẩy khi bắt gặp đôi mắt nai tròn xoe, đen lay láy. Ánh mắt ngây thơ, trong veo như hai giọt sương chăm chú nhìn ông. Đôi mắt người xưa của “Dư âm” 39 năm trước trở về ám ảnh. Ông thẫn thờ như đi trong miền mộng ảo tràn ngập ánh trăng năm nào. Khi cô gái trẻ thẹn thùng bước đến gần, ông mới sực tỉnh. Nàng thẽ thọt: “Xin lỗi, anh có phải là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý?”. Ông lúng túng gật đầu.

Theo lời nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thì cô gái Huế ấy là con của một gia đình trí thức, danh gia vọng tộc. Sự thông minh, quý phái, mặn mòi của cô khiến ông trân trọng, cảm phục. Mối tình chớm nở chôn giấu riêng mình. Nhưng như lò xo bị nén, tình yêu sâu kín của ông đến lúc không kìm lại được nữa. Bài hát “Một ánh sao trời” ra đời trong đêm ông thức trắng nhớ về nàng.

Cay đắng thay, nàng từ chối bài hát ấy và đi về viễn xứ không lời từ biệt. Sau này ghé lại chốn cũ, ông mới hay nàng đã từ bỏ chốn hồng trần mà lụy nơi cửa Phật. Mối tình ấy có khác gì rung động của “Dư âm” xưa nên về sau nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đổi tên “Một ánh sao trời” thành “Dư âm 2”.

Sinh ra ở Vinh - Nghệ An, vậy mà một thời gian dài nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý luôn được bầu làm Chủ tịch Hội đồng hương Hà Tĩnh tại TP Hồ Chí Minh khi ông chuyển vào đây từ năm 1975. Bởi với hai bài hát “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” và “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”, người Hà Tĩnh đã coi ông là “công dân danh dự”. Ít ai ngờ khi đã 83 tuổi, ông nằng nặc đòi trở lại sông Lam, núi Hồng mặc cơn tai biến hành hạ.

Số là trong đợt vận động sáng tác về mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc nhân ngày giỗ các chị, nhà thơ – luật sư Bùi Mạnh Hảo đã đem bài thơ “Mười bông hoa trinh liệt giữa Ngã ba Đồng Lộc” đến nhờ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phổ nhạc. Trong lời tâm sự khi ra mắt trường ca, nhạc sĩ viết: “Tại sao ở tuổi 83 này tôi còn viết trường ca? Trường ca là một thể loại dài hơn những ca khúc mà tôi đã từng viết. Nhưng khi viết bài thơ “Mười bông hoa trinh liệt giữa ngã ba Đồng Lộc” thì Bùi Mạnh Hảo cũng như tôi đã bắt gặp một nguồn cảm xúc vô cùng lớn. Sự rung cảm của thơ, như ngọn lửa thiêng, buộc tôi phải nghĩ ra một khuôn khổ nhạc đủ sức chứa đựng những rung cảm vô cùng mạnh mẽ đó. Nhưng ban đầu thì hình như vẫn còn những chỗ chưa thật ưng ý. Tôi và con gái Thái Linh đã phải nhân một chuyến đi theo lời mời của Tỉnh ủy Hà Tĩnh, bố con tôi đã đến thăm mộ các O”.

Giữa ngã ba Đồng Lộc lộng gió, người nhạc sĩ già chống gậy nhấc từng bước, run run thắp nén nhang trên nấm mộ mười cô gái chưa tròn đôi mươi. “Tôi thấy ánh mắt các O long lanh trên những tấm hình của từng ngôi mộ. Ánh mắt nhìn thẳng vào trái tim thương cảm của tôi và thắp lên ngọn lửa thiêng khiến tâm hồn tôi sáng suốt. Ánh mắt ấy cứ theo tôi mãi cho đến khi tác phẩm được hoàn thành” – ông tâm sự.

 “Các O nằm lại đây phong sương cùng cây cỏ/ Dưới từng nấm mộ nhỏ e ấp một tâm linh/ Mỗi con tim chan chứa biết bao tình (…)/ Các O nằm lại đây vẫn thẳng hàng như một thời xông trận/ Đạn đã lên nòng, cuốc xẻng chắc trong tay...”.

Viết xong trường ca, ông ngã bệnh nằm liệt giường. Từ đó, đôi tay run run không còn cầm nổi cây bút, gảy từng phím đàn. “Mười bông hoa trinh liệt giữa Ngã ba Đồng Lộc” trở thành ca khúc cuối cùng, khép lại sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của người nhạc sĩ tài hoa.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.