Nhà văn Vũ Minh Nguyệt: Trăng bay khuất nẻo chân trời

Người nào văn ấy, văn là người, có lẽ nhận định này thật đúng với trường hợp của Vũ Minh Nguyệt. Trong giao đãi với đời, với người, Vũ Minh Nguyệt luôn ươm nở trong tim những người chị từng quen thân niềm mến thương, trân quý bởi sự ấm áp, nhiệt tình.

Nhà văn Vũ Minh Nguyệt là bạn văn đầu tiên ở khu vực Hà Nội tôi gặp ngoài đời. Dạo đó là tháng Bảy năm 2008, sau một tuần đau buồn lo đám tang cho người cha quá cố, tôi lên Bệnh viện Quân y 103 làm nốt thủ tục cuối cùng cho cha. Lúc ngang qua quầy báo trong khuôn viên Bệnh viện, tôi thấy tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội có đăng truyện ngắn đầu tay của mình “Hoa pằng nảng rơi rơi” được bày bán. Tôi dừng lại, mua mấy cuốn dành tặng bạn bè. 

Người quản lý quầy báo tươi cười hỏi: “Em mua làm gì nhiều thế?”. Nhìn gương mặt xinh đẹp và vẻ thân thiện của chị, lòng tôi như hao vơi đi nỗi buồn, tôi bảo: “Em có truyện in trong Tạp chí này”. Chị lại cười, hỏi: “Em - là - thằng - Nguyễn - Phú - phải - không?”. 

Rồi chị giới thiệu là Vũ Minh Nguyệt, cộng tác viên thân thiết của Văn nghệ Quân đội. Chị đã đọc truyện ngắn của tôi và chị thích. Sáng ấy, tôi nói chuyện với Vũ Minh Nguyệt như chúng tôi quen biết từ lâu. Chị tìm tặng tôi cuốn sách, có lẽ là tập truyện đầu tay của chị, nhưng không còn. Chị hẹn sẽ tặng sách cho tôi và không quên dặn khi nào qua khu vực Bệnh viện thì ghé vào chỗ chị.

Nhà văn Vũ Minh Nguyệt.
Nhà văn Vũ Minh Nguyệt.

Từ ấy, mỗi lần có việc đến Bệnh viện 103 là tôi ghé vào thăm Vũ Minh Nguyệt. Lần nào không gặp được chị, thấy một cảm giác bâng khuâng thật khó tả. Gặp chị là lại chuyện văn chương, về những tác phẩm mới hay những tác giả nào đó mà tôi và chị quen biết. Có khi, chị nói say sưa với niềm yêu chứa chan ngời lên gương mặt của người đàn bà đẹp về người chồng văn chương tài hoa và hai cậu con trai điển trai, giỏi giang. Tôi thầm ngưỡng mộ chị, cũng như nhiều bạn bè văn chương ngưỡng mộ gia đình chị.

Năm 2013, một lần ghé qua, tôi được Vũ Minh Nguyệt tặng tập truyện “Những người đàn bà ở bến sông”, tập truyện gồm 11 truyện ngắn. Thực ra, trước khi gặp Vũ Minh Nguyệt, tôi đã đọc những sáng tác của chị in rải rác đâu đó. Cảm nhận của tôi về văn chương Vũ Minh Nguyệt từ truyện ngắn đầu tiên đến truyện ngắn cuối cùng là thiên tính nữ tinh tế, thương nhớ đằm sâu, yêu thương tận cùng và tình người, tình đời mênh mang. 

Rời quê từ thời thanh nữ, mấy chục năm gắn bó với phố phường nhưng tâm hồn văn chương của chị đẫm đụa tình quê, cảnh quê, người quê. Đấy là bến sông quê, dòng Hoàng Long trở đi trở lại trong hầu hết các truyện ngắn, tiêu biểu như: “Cha, mẹ và con”, “Làng Phú Tang”, “Người làng Bãi Trữ”, “Những người đàn bà ở bến sông”, “Sau mưa”...vv. 

Đấy là đồng đất, núi non vùng cố đô trữ tình và hoài nhớ, với những Bãi Giữa, Bãi Trữ, núi Trường Yên, Mã Yên, đầm Liễu, đầm Kim, đầm Sen, cánh đồng Diều Sa... Đấy là những con người sinh ra bên dòng sông quê, họ sống - chết, yêu thương - oán hận, hạnh phúc - khổ đau, ly hương - trở về... Đấy là nết ăn, nết ở của người quê gắn với những phong tục, lề luật, cả những thói tật đều hiển lộ sinh động, tươi ròng... Nhưng bao trùm lên tất thảy các trạng huống ấy là tình người ắp đầy, tình yêu quê hương thẳm sâu khôn cùng trên những trang văn của Vũ Minh Nguyệt.

Tiếng nói “nữ quyền” trong văn của Vũ Minh Nguyệt là sự tự ý thức, niềm kiêu hãnh của người nữ về phẩm hạnh cao khiết và thiên chức của mình trong tình yêu, trong gia đình và giữa cộng đồng. Dù ở hoàn cảnh nào họ cũng luôn khát khao được san sẻ, chở che và yêu thương.

Linh (Bầu trời ngoài ô cửa - Giải Ba cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội) dù tàn tật và phải làm bạn với bốn bức tường nhưng luôn khát khao về một khung trời hoa mộng, tự do. Và rồi chỉ một chút rung cảm về tình yêu đôi lứa dù mơ hồ, chợt lóe nhưng quá đỗi thanh ngần cũng đủ để Linh có thể bước ra ngoài ô cửa và thăng hoa trong nghệ thuật. 

Những người đàn - bà -  chinh - phụ có chồng hi sinh trong cuộc chiến, họ đã từng hết lòng với người ra đi, trong cô độc, đau thương những khát khao âm thầm vẫn trỗi thúc họ bước qua lưỡi dao dư luận để yêu và được yêu, được dâng hiến và làm mẹ (chị Duyên trong “Cha, mẹ và con”, người mẹ trong “Sau mưa”...vv).

Tác phẩm của cố nhà văn Vũ Minh Nguyệt.
Tác phẩm của cố nhà văn Vũ Minh Nguyệt.

Người nào văn ấy, văn là người, có lẽ nhận định này thật đúng với trường hợp của Vũ Minh Nguyệt. Trong giao đãi với đời, với người, Vũ Minh Nguyệt luôn ươm nở trong tim những người chị từng quen thân niềm mến thương, trân quý bởi sự ấm áp, nhiệt tình. Gặp bạn bè và người thân của họ vào viện, nơi chị công tác, có điều kiện là Vũ Minh Nguyệt đôn đáo, tận tâm giúp đỡ. Bạn bè văn chương sinh nở tại Viện 103, chị xăng xái chăm lo như người chị cả, như người mẹ. Nghỉ hưu, có thời gian là chị cùng bạn bè đến với vùng khó khăn để chia sẻ với những cảnh đời thiếu may mắn. 

Những phẩm chất cao quý ấy của người văn đã thấm vào từng con chữ, từng nhân vật nữ mà chị chăm chút. Và lòng nhân hậu, bao dung của những người nữ ấy thực như một ngọn gió mát, dòng suối tươi lành xua tan mọi vênh lệch, oán hờn, khổ đau, để chỉ còn lại tình người ngân vọng mãi nơi trái tim bạn đọc.

Tôi đã thực sự xúc động vì sự hy sinh, mầm nhân, cây đức mà bà Tằm vun trồng cho dòng họ nhà chồng “Những người đàn bà ở bến sông”. Thiên lương của họ là tinh hoa, phẩm tính mẫu từ ngàn đời của những người đàn bà Việt. Hay “Cha, mẹ và con” là truyện ngắn cho tôi nhiều dư ba. Tôi thích cái không khí man mác, sầu thương của truyện. 

Một tác phẩm nữa của Vũ Minh Nguyệt tôi hay nhớ đến mỗi độ tháng Tư về, đó là tản văn “Có một mùa hoa sắp đi qua” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tản văn nhỏ nhưng dung chứa những xúc cảm tinh tế, đắm đuối của người đàn bà đẹp với loài hoa mong manh, tinh khiết, kiêu sa - hoa loa kèn - thiên sứ của tháng Tư tươi nồng. Quý lòng yêu hoa của Vũ Minh Nguyệt, đã nhiều lúc tôi dự định sẽ tặng chị một bó loa kèn vào dịp tháng Tư, nhưng rồi cho đến bây giờ tôi đã không làm được điều ấy.

Khoảng hai mươi năm sáng tác (tính từ truyện ngắn đầu tay “Những người đàn bà ở bến sông” - 1999), gia tài văn chương của Vũ Minh Nguyệt gồm 5 tập truyện ngắn: “Hoàng hôn của cha” (2007), “Truyện ngắn Sương Nguyệt Minh và Vũ Minh Nguyệt” (2007), “Truyện ngắn Vũ Minh Nguyệt” (2010), “Những người đàn bà ở bến sông” (2010), “Mưa rơi ở thành phố lạ” (2016) và tiểu thuyết “Khi cuộc chiến đi qua” (2017)... Không quá nhiều, nhưng cũng không phải là ít với một đời văn. 

Điều quan trọng là văn chương Vũ Minh Nguyệt đã rõ hình, nét sắc và ngan ngát tỏa hương. Đọc văn chị dù có vênh vao, mâu thuẫn, xung đột nhưng hầu như không có sự giảo quyệt, độc địa; mất mát, buồn thương mà vẫn thấy ấm áp, nhân hậu và chứa chan hi vọng. Nó đúng như con người chị mà nhà văn Phạm Phong Lan đã nói với tôi trong ngày chúng tôi tiễn biệt chị về lại đồng đất quê cha: “Ở chị Nguyệt tỏa ra một thứ năng lượng đầy yêu thương, nhân hậu!”.

Tôi vẫn luôn tin rằng Vũ Minh Nguyệt có thể đã có một sự nghiệp đồ sộ hơn nếu chị không là người đàn bà lui về phía sau để chồng mình luôn tiến về phía trước(*). Chị gác lại nhiều năm tháng văn chương để vun vén vuông tròn cho chồng, cho con. 

Vũ Minh Nguyệt là người đàn bà yêu chồng đến mê đắm. Ngôi đền tình yêu mà chị bước vào để yêu và được yêu từ thời thanh nữ cho đến hơi thở cuối cùng lúc nào cũng ngân rung. Trước khi lâm trọng bệnh Vũ Minh Nguyệt viết đều, in đều. Có khi truyện của tôi và chị cùng đi một số báo/tạp chí văn chương. Đọc văn chị, tôi mừng cho một giai đoạn bung trổ của chị. “Kiếp hoa”, in tuần báo Văn nghệ có lẽ là truyện ngắn cuối cùng của Vũ Minh Nguyệt? Dường như cái tên truyện đã ám vận vào cuộc đời hồng nhan của chị!

Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng, người thầy thân thiết của Vũ Minh Nguyệt từng có một phát hiện thật hay về văn chương của cô học trò cưng: “Không biết có phải vì cái tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho mà Vũ Minh Nguyệt nhìn đâu cũng thấy trăng”, “truyện ngắn Vũ Minh Nguyệt, có thể nói, tràn đầy và thấm đẫm ánh trăng”. Người văn đã ra đi, nhưng những trang văn bát ngát trăng đêm của chị sẽ còn làm dịu mát tâm hồn bạn đọc khi họ đến với văn chương Vũ Minh Nguyệt. Ánh trăng thiên lương từ tâm hồn chị còn mãi tỏa rạng trong lòng người thân và cả những người chị từng gặp gỡ, mến thương.

Cho đến lúc này, tôi và nhiều bạn văn yêu quý Vũ Minh Nguyệt vẫn chưa tin chị đã đi qua cõi hồng trần. Có phải là sự thật không chị, trăng bay khuất nẻo chân trời?

(*) Ý trong lời điếu tại đám tang nhà văn Vũ Minh Nguyệt.

Nguyễn Phú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.