Nhà văn, nhà báo Phạm Công Luận: Người lưu giữ ký ức phố thị

Bắt đầu từ những kỷ niệm ấu thơ nâng niu lưu giữ, từ tình yêu với Sài thành là nơi ôm ấp muôn phận người tứ xứ, từ những phôi pha vàng son ngày cũ, Phạm Công Luận ghi chép lại những điều tưởng như đã chìm lấp giữa cát bụi thời gian và nhịp ồn ã phố thị. Theo năm tháng, trang viết dày lên, thủ thỉ kể câu chuyện đời bất tận của phố...

“Sài Gòn, chuyện đời của phố” đã ra tập sách thứ tư. Các tập sách không bó buộc theo một chủ đề nào nhất định. Tất cả mộc mạc như tên gọi của nó: chuyện đời. Mà chuyện đời thì kể sao cho xiết và cho hết. Là trang phục của người Sài Gòn xưa, là thói quen dùng dầu dừa xức tóc của các bà các chị, là tiệm ảnh Viễn Kính chuyên chụp ảnh cho các minh tinh tài tử đình đám Sài Gòn. Là tiếng rao vọng trong xóm nhỏ, là cuộc sống ven đô, là quán cơm quen, là chồng ảnh gia đình ố màu biến cố lịch sử…

Từng ký ức hiện lên như thước phim quay chậm sắc nét mà chắc chắn ai đã từng trải qua ngày ấy không khỏi bồi hồi. Chuyện nào đã tìm tòi, thu thập đủ tư liệu thì ông kể cho bạn đọc nghe. Chuyện nào chưa thể tìm gặp nhân chứng hay tư liệu còn mỏng thì thôi tạm gác lại chờ nụ nhân duyên. Mọi sự ông cứ để nó tình cờ và tự nhiên như thế.

Ngụp lặn trong ngược xuôi đô hội, Phạm Công Luận tỉ mỉ tái hiện sinh động đời sống Sài Gòn thập niên 60, 70 của thế kỉ trước. Ta bắt gặp cô gái Sài Gòn năng động, kiêu kỳ và hiện đại gột rửa phấn son để trở lại vẻ mộc mạc, cổ kính trong sách Phạm Công Luận. Ông chọn giai đoạn này bởi đây là giai đoạn chứa nhiều kỷ niệm thời niên thiếu, đủ độ lùi và trải nghiệm để viết, tìm gặp nhân chứng sống.

Thơ bé, Phạm Công Luận đã thích quan sát và ghi nhớ rất tốt vạn vật xung quanh. Ngày Tết, thích la cà ngó nghiêng quan sát nhà người ta bày bàn thờ, nhớ như in cái áo dài má mặc và cả mùi nước hoa. Bà ngoại biểu đi mua ly cà phê thì thằng bé lang thang hơn cả tiếng mới về, cà kê coi người ta đá gà, bán buôn, xe bán kẹo kéo ven đường…

Tình yêu Sài Gòn lớn dần theo năm tháng. Anh trai hay thuê sách về cho cả nhà đọc nên Phạm Công Luận được đọc nhiều, biết nhiều. Lớn lên đi làm báo, kiến thức từ sách báo, khiếu quan sát, tìm tòi của ông được dịp phát huy. Cuối năm 2012, từ câu hỏi vu vơ của một người bạn phương xa rất yêu Sài Gòn “Vì sao anh Luận sinh ra và lớn lên tại thành phố này mà không viết về nó?”, ông giật mình. Ừ phải, mình sinh ra ở thành phố này nhưng đã biết bao nhiêu về nó đâu?

Chuyện đời của Sài Gòn trước hết là câu chuyện của chính Phạm Công Luận.  Ở tập 1, phân nửa cuốn sách là kỷ niệm, sinh hoạt gia đình và nếm trải của cá nhân ông nơi gắn liền với thời thơ ấu - quận Phú Nhuận. Ông viết để lưu lại cho mình, như cuốn album hoài niệm bằng chữ và hình ảnh. Đến các tập sau, mở ra nhiều câu chuyện của bà con chòm xóm, của những người gắn bó với hòn ngọc Viễn Đông một thời.

Ông bảo rằng: “Tôi tự mình lục lọi, khám phá vì đọc bài của người khác về một câu chuyện mình biết, có lúc không thấy đã. Có những điều chưa có ai viết. Nên tôi đã viết điều mà tôi muốn biết, chứ không phải viết điều mà tôi đã biết, đã có chuyện để kể”.

Càng viết, ông càng thấy hào hứng, và hứng thú đó lớn dần lên qua thời gian và từng đề tài. Người ký giả như lữ khách lạc vào không gian vang bóng cũ kỹ mà góc nào cũng đầy mới mẻ chào mời. Mỗi đồ vật, gốc cây, con phố… ẩn chứa trong mình biết bao câu chuyện thăng trầm mưa nắng. Bắt gặp tờ nhạc của NXB Tinh Hoa Miền Nam mà dân sưu tập bây giờ vẫn đang săn lùng, ông nhớ người Sài Gòn – Gia Định xưa kia thường mua và lưu giữ để nếu có dịp đem ra hát hò giải trí. Trước 1975, các chương trình ca nhạc thường có giá vé quá mắc với giới bình dân. Do đó, tờ nhạc phía trong in nhạc và lời bài hát, phía ngoài là tranh bìa đẹp mắt, thường là tranh theo trường phái lập thể của họa sĩ Duy Liêm bán rất chạy. Từ đây, ông phát triển thành các đề tài như bài viết về nhà xuất bản chuyên xuất bản các tờ nhạc rời, về họa sĩ Duy Liêm nổi tiếng với gia tài độ sộ hơn 50.000 tác phẩm mà hiếm ai biết mặt…

Câu hỏi “Huyền Chi, cô ở đâu?” in trên tờ nhạc “Thuyền viễn xứ” của nhạc sĩ Phạm Duy khiến Phạm Công Luận không ngừng thắc mắc: Huyền Chi – tác giả bài thơ mà nhạc sĩ tài danh phổ nhạc - là ai. Một anh Việt kiều Nhật vì thích cuốn “Nếu biết trăm năm là hữu hạn” của vợ chồng Phạm Công Luận đã liên lạc với ông và mời đi ăn cơm. Tình cờ, ông nghe người bạn Việt kiều buột miệng nhắc tới bà Huyền Chi, người đã bồng bế ông khi còn nhỏ. Phạm Công Luận mừng như bắt được vàng, vì đó sẽ là đầu mối cho bài viết “Huyền Chi, cô ở đâu” in trong tập 4 bộ sách này.

Lần khác, trò chuyện qua mạng với một người bạn, Phạm Công Luận nghe anh này nhắc đến tiệm hớt tóc của ba mình thỉnh thoảng trở thành tụ điểm đờn ca tài tử - một kiểu sinh hoạt văn nghệ độc đáo của Sài Gòn xưa. Hay tình cờ được xem cuốn gia phả phục dựng của  phía bên chồng người dì ruột, một gia đình 200 năm sống trên đất Gia Định. Những lần hạnh ngộ đó, với sự nắm bắt bén nhạy của người làm báo đã biến thành biết bao đề tài cho một người mải miết đi tìm hình bóng quá vãng của thành phố này.

Trong tập 4 này, có một bài viết Phạm Công Luận tâm đắc. Đó là bài viết về nghệ sĩ Tư Chơi, chồng đầu của NSND Phùng Há. Ông Tư Chơi tên thật là Huỳnh Thủ Trung. Thập niên 30 của thế kỉ trước, Tư Chơi là thầy tuồng nổi tiếng có nhiều công lao to lớn với nghệ thuật cải lương như viết lời Tây theo điệu ta, soạn tuồng hoạt kê ngắn…

Về sau ông lấy bà Kim Thoa, bà chủ của gánh cải lương Kim Thoa sau này. Đình đám như vậy nhưng báo chí ít nhắc đến Tư Chơi, người ta chỉ nhắc đến ông đôi nét khi nói về nghệ sĩ Phùng Há. Tìm tòi nhiều tháng trời, cuối cùng Phạm Công Luận cũng tìm ra người cháu nội Tư Chơi để nghe cuộc đời trầm luân và lẫy lừng một thời của ông hoàng cải lương. Qua người này, anh có thể viết thêm một bài khác về Huỳnh Háo, con trai ông Tư Chơi, rất nổi tiếng trong giới chơi nhạc Sài Gòn và từng đạt danh hiệu “Đệ nhất tay trống Đông Dương” thời Pháp thuộc.

Viết “Sài Gòn, chuyện đời của phố”, Phạm Công Luận tâm niệm mình như một nhà báo lật mở từng câu chuyện dung dị chứ không mang tâm thức của một nhà nghiên cứu. Đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu viết về vùng đất Sài Gòn – Gia Định  nên ông muốn tìm kiếm cho riêng mình những câu chuyện khác, ở những góc cạnh riêng biệt của vùng đất Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn mà với chức năng của một nhà báo, ông có điều kiện tiếp cận.

Đọc sách, người ta thấy được sự  dụng công tìm tòi, tỉ mẩn khai thác tư liệu, hình ảnh, nhân chứng của tác giả. Hầu hết các bài trong bộ sách đều có điểm mới, chi tiết mới, thông tin mới, hình ảnh mới thậm chí điều chỉnh những chi tiết trong một số bài trên báo chí đưa ra không chính xác. Khó khăn nhất là tài liệu về Sài Gòn xưa khá khiêm tốn. Các tài liệu cổ chủ yếu viết bằng tiếng Pháp, phải nhờ người dịch.

Ông nhìn nhận, với lượng thông tin nhiều như vậy, việc sai sót không thể tránh khỏi dù nhỏ. May mắn thay, đã có những độc giả lúc đầu vì yêu quý sách của ông mà góp ý, sửa lỗi, sau đã trở thành những người bạn, thậm chí là nhân vật trong một bài viết.

Như một lần ra mắt tập 2, một độc giả hỏi tại sao tác giả chỉ viết xoay quanh khu vực quận Phú Nhuận, Bình Thạnh mà không viết ở khu trung tâm quận Nhất. Vị độc giả này còn chỉ ra vài lỗi nhỏ trong sách, chủ yếu là lỗi morasse tiếng Pháp. Phát biểu xong, anh này ra về khi cuộc giao lưu vừa xong, tác giả đang bận ký tên.

Phạm Công Luận tiếc vì chưa kịp lấy số liên lạc của độc giả thú vị này thì một tháng sau, ông nhận được bức email dài kê ra các lỗi cần hiệu đính, tỉ mỉ đến từng dấu phẩy. Gặp gỡ, ông mới biết đây là một thầy giáo dạy trường quốc tế tại Malaysia, từng sinh ra và lớn lên tại quận Nhất. Thầy giáo trở thành người bạn đồng hành thân thiết cho đến bây giờ, không những cung cấp nhiều thông tin về cuộc sống ở trung tâm Sài Gòn xưa mà còn giúp đỡ Phạm Công Luận dịch tài liệu tiếng Pháp.

Phong trào viết sách về Sài Gòn hiện nay nở rộ, nhất là cây bút trẻ. Họ viết cảm nhận về Sài Gòn, về cuộc sống đương đại sôi động, những sinh hoạt thường nhật, tình người ấm áp mảnh đất lành. Trong dòng chảy đó, Phạm Công Luận chọn cho mình một lối đi riêng, đầy hoài niệm như điệu bolero ngày cũ nhưng chất chứa nhiều thông tin mới mang tính nghiên cứu khiến một số bài viết của ông có giá trị như bài sưu khảo.

Cuốn sách kể chuyện đời thường nhẹ nhàng này đã trở thành mảnh ghép quý báu để thế hệ trẻ hình dung đầy đủ hơn về bức tranh lịch sử trước 1975 của thành phố có tuổi đời hơn 300 năm. Ông cũng giúp độc giả lớn tuổi, hàng 70, 80 tuổi tìm lại tuổi trẻ của mình. Họ đọc sách của ông, đã cám ơn vì: “Lúc trẻ tôi chỉ nghe loáng thoáng chuyện này, giờ già rồi mới biết rõ!”.   

“Càng viết tôi càng nhận thấy ký ức đô thị đang mất dần, chúng ta dần quên lãng khi nhịp sống ngày càng gấp gáp. Ở Sài Gòn, đụng đâu cũng thấy đề tài nhưng đụng đâu tư liệu cũng chỉ còn chút ít. Tôi tự giục mình phải tranh thủ viết khi còn sức viết xông xáo và còn có thể gặp được những nhân chứng của đất Sài Gòn xưa đã ở tuổi gần đất xa trời, vì sợ sẽ không kịp nữa.

 Câu: “Lịch sử nhân loại như một dòng sông đôi khi đầy máu và xác những người chém giết nhau, cướp bóc lẫn nhau; mà các sử gia chỉ thường chép những hành động đó thôi. Nhưng trên bờ còn có những người khác cất nhà, làm vườn, nuôi con, làm thơ” (Will & Ariel Durant) luôn khiến tôi tâm đắc và xem đó là động lực để tiếp tục làm người nhặt nhạnh những câu chuyện giản dị, viết những chuyện đời thường “cất nhà, làm vườn, nuôi con” để góp sức bảo tồn ký ức đô thị này” – Phạm Công Luận tâm sự. 

Mai Quỳnh

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.