Nhà thơ Thanh Quế: Như “”Sóng nơi đáy sông”

Tôi và anh Thanh Quế sống với nhau từ khi đầu cả hai còn xanh, tuổi cả hai còn trẻ. Vóc dáng bề ngoài nom thì anh nào cũng hơi bị thấp bé nhẹ cân. Tác phong anh nào cũng cưng cứng quê mùa. Nói năng không lấy gì làm khúc chiết trôi chảy. Thậm chí còn vụng về hơn cả anh chị em bộ phận phục vụ của trại viết Khu V hồi sau 1975. 

Anh Quế hơn tôi vài tuổi, lại đã từng trải hơn tôi rất nhiều về cái sự học hành kiến thức văn hoá văn chương. Tôi về trại viết Khu V gần như là người cuối cùng. Tuổi đời tuổi nghề (văn chương) đều là giê-rô, mới he hé cái khả năng viết lách qua hai cái truyện ngắn đầu tay từ đơn vị huyện đội K8 (An Khê) heo hút và ác liệt bậc nhất của Khu V gửi về theo đường giao liên.

Của đáng tội, ở xa tít mù gửi đại ra trạm giao liên và cái số mặc may của cái truyện ngắn ấy lọt vô tay các anh Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ đang lo số mới. Anh Nguyễn Chí Trung và anh Thái Bá Lợi, lúc ấy một ông là Trại trưởng, một ông là nhà văn, trại viên đang nổi với một số truyện ngắn năm rồi in trên tạp chí nhà và cả trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Tôi mãi từ Gia Lai đi bộ ba tháng trong rừng chiến khu qua bao nhiêu khúc quanh ác liệt để về dự trại được là cả một chuyện li kỳ. Tôi được anh Nguyễn Chí Trung và anh Thái Bá Lợi "lăng xê" do các anh đã "phát hiện" từ trại viết lần này, cuối năm 1972.

Khi Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Trung Trung Bộ in truyện ngắn đầu tay của tôi và tôi được các anh khen thì tôi không thể tả được tâm trạng vui mừng phấn khởi của tôi lúc ấy nó thế nào. May mà hồi ấy anh Thanh Quế ở bên dân sự, Tạp chí Văn nghệ của Khu ủy, là dân sự nhưng lại là người rất hay qua bên Tạp chí Quân giải phóng cà kê. Anh gặp tôi và khen tiếp.

Tôi mê hai ông anh Thanh Quế và Thái Bá Lợi, chơi thân với hai ông anh từ hồi đó tới giờ. Thực ra trại viết Khu V hồi ấy là nơi tập hợp được toàn bộ lực lượng sáng tác văn học nghệ thuật của miền Trung và Tây Nguyên. Anh nào anh nấy đều đã kinh qua cuộc chiến trên rừng, mỗi anh một kiểu.

Các anh lứa trước như Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí  Trung, Thu Bồn, Phan Tứ, Lưu Trùng Dương đã nổi tiếng từ trong đánh Pháp đến sau Hòa Bình lập lại. Cánh nhà văn trưởng thành trong chống Mỹ ở tuổi chúng tôi còn khá trẻ, đa số ngoài hai, ba mươi.

Về tổ chức hành chính có phân chia hai cơ quan bên dân sự, bên quân giải phóng. Nhưng các mặt khác như khâu chuyên môn viết lách thì tuy hai mà là một. Các trại viên sàn sàn một lứa. Hạng trại viên áp chót như tôi nom còn ngô ngố hiền lành, chân chất, thật thà.

Nửa máu lính tráng như tôi, Thái Bá Lợi, Thanh Thảo và Ngân Vịnh, mèng cũng Chuẩn úy như tôi. Cánh Thanh Thảo, Thái Bá Lợi đều Thiếu úy, Trung úy. Nửa kia đa số là cán bộ viên chức hồi ở trên núi về thành phố là Thanh Quế, Ngô Thế Oanh, Bùi Minh Quốc. Hồi trước 1975, tất cả các anh đều sống trên Trà My, Nước Oa, Nước Ồ.

Đều nổi tiếng và đều đã thành công trên nhiều phương diện. Thanh Quế là nhà văn, là cán bộ sáng tác bên Ban Văn nghệ của Khu ủy. Tôi là lính trơn có viết lách tí chút từ đơn vị được các anh Trại viết Quân khu triệu về nhập trại. Bây giờ gọi là tập huấn. Rồi năm 1976 – 1977, sau khi miền Nam được giải phóng, những ngày đầu thành lập "trại viết" thì cả lũ anh em cánh tôi, vẻ ngoài đều giông giống nhau, đi uống nước mía hay cà phê, dân Đà Nẵng gặp chúng tôi thảy đều gọi chung là mấy ông bộ đội.

Nhưng rồi cuộc sống đã dạy cho mỗi người một cách tự biểu hiện, tự khẳng định mình. Mỗi anh vượt qua cái bỡ ngỡ ban đầu theo cách của mình, mỗi anh một vẻ. Và sự "cố định" tính cách từ hồi đứng tuổi đến giờ ai cũng thế, đa số không mấy suy chuyển.

Nhìn vóc dáng nhỏ thó của Thanh Quế bây giờ, bạn thử hình dung xem, hồi mới học xong khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, vào Nam chiến đấu cùng năm 1969, khi ấy mới 22 tuổi. Hai mươi hai tuổi xuân, chưa cả người yêu, chưa cả biết “trò” gì liên can tới hẹn hò gian díu, yêu đương, chỉ có mỗi “trò” mê thơ.

Thơ là cái bùa mê chi chi mà làm liêu xiêu bao nhiêu trái tim trong trắng, hồn nhiên đắm đuối. Cũng chỉ biết thiệt tình yêu, yêu không tính toán so đo, chớ bảo sẽ lên ông lên bà, lên nhà này nhà nọ chi chi thì có khi sớm chùn chí. Thanh Quế vốn tính nhút nhát, là học sinh miền Nam đấy, được cả xã hội cưng chiều, ưu tiên ưu đãi đấy, nhưng nhút nhát vẫn hoàn nhút nhát. Ở đâu có chuyện gì liên quan đến văn thơ, có bạn làm văn làm thơ là lăn xả vào chơi.

Chơi để thỏa mãn tình yêu, để được sống cùng lý tưởng. Rồi thì cái máu thơ văn nhập vào cùng với khát khao bay nhảy, hai chữ “về Nam” thường trực, thôi thúc không chỉ riêng Thanh Quế mà cả lứa bạn thời đèn sách trước đó một tý sau đó một tý: Lê Anh Xuân, Ngô Thế Oanh, Cao Duy Thảo, Trần Vũ Mai, Giang Nguyên Thái… thảy đều như nhau.

Với Thanh Quế trước hết là một nhà thơ. Một nhà thơ của trăn trở chiêm nghiệm và khắc khoải. Anh là người sống không mấy khi yên tĩnh, kể cả khi còn trẻ, thời học sinh miền Nam tập kết ra Bắc. Kể cả sau bảy lăm hòa bình. Hồi ra tập kết, anh và các bạn miền Nam sống trong khắc khoải, cảnh tình Bắc Nam bị chia cắt, đất nước phân tranh, cả nước lúc nào cũng sôi sung sục căm thù Mỹ Diệm với khẩu hiệu “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì sự nghiệp Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước”.

Thanh Quế một thanh niên, sinh viên, là một "con chiên sùng đạo Thơ". Nhưng cho đến bây giờ Thanh Quế vẫn kiên quyết chưa bao giờ là nhà thơ thời thượng nổi tiếng, chưa bao giờ ta bắt gặp Thanh Quế đọc thơ hoành tráng như một số nhà thơ quảng trường.

Nhà thơ Thanh Quế và con trai, nhà thơ - họa sĩ Phan Tuy An.
Nhà thơ Thanh Quế và con trai, nhà thơ - họa sĩ Phan Tuy An.

Thời chiến tranh, các nhà thơ đi đến đâu cũng đều để lại nhiều ấn tượng đẹp của những cuộc đọc thơ salon, đọc thơ quảng trường vừa hấp dẫn vừa gây xao động xã hội, xao động lòng người bởi những bài thơ, câu thơ và nhất là bởi giọng ngâm thơ, đọc thơ hấp dẫn, quyến rũ, đầy tính kích động, khích lệ và kể cả thổn thức. Trước đây là Phùng Quán, Trần Dần, sau này là Thu Bồn, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh…

Thơ đối với công chúng thời ấy là sự khích lệ, dìu dắt, nâng đỡ và thúc giục. Các nhà thơ hồi ấy không chỉ là nhà thơ mà họ còn là các nhà tuyên truyền cho chiến công, cho tinh thần cách mạng, cho anh hùng chiến sĩ thi đua, cho đồng chí đồng đội.

Thơ Thanh Quế cũng xuất hiện cùng thời thơ các nhà thơ trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ một thời ấy, nhưng thơ anh là vỉa thơ lắng đọng: Không ồn ào, khoa trương, không vội vã thúc giục mà lặng thầm phía sau con chữ, phía sau cuộc đời. Cùng với một số nhà thơ chung trong vỉa quặng ấy tôi thấy có: Trúc Thông, Thi Hoàng, Định Hải…

"Trước nhà em sông Vu Gia" là bài thơ hay, hay nói đúng hơn là xuất sắc của Thanh Quế. Cũng là bài thơ xuất sắc của vỉa quặng thơ chiêm nghiệm bấy giờ. Nó lặng lẽ đi vào long người đọc và găm vào đáy sâu tâm tưởng họ. Nó bình dị, như dòng sông quê, như mái nhà quê, như cô em gái quê…

Trước nhà em sông Vu Gia
Sau nhà em cũng lại là dòng sông
Anh đi giữa một cánh đồng
Ngóng trông bên nọ ngóng trông bên này

….

Thơ đạt đến đỉnh cao của cảm xúc, của tình người, của ngôn từ không còn phải bàn cãi gì được hơn. Tôi gọi đó là vẻ đẹp tao nhã, lắng đọng thân thương của sự giản dị.

Trúc Thông có bài thơ "Bờ sông vẫn gió" và Thi Hoàng có "Ở giữa cây và nền trời" cũng cùng chung cái hay cái đẹp ấy. Chúng ta hay gọi là "để đời". Nói với ba thi sĩ này mà nói là “thơ để đời” thế nào cũng bị các bác ấy "xin lỗi, không dám đâu".

Thơ hay ít lời, kiệm ý giàu hình tượng, không rối rắm khoa trương khiến ta cảm thấy nó đến với ta cũng tự nhiên  nhẹ nhàng giản dị "chả thấy gì là văn chương thơ phú".

Thanh Quế là nhà thơ viết nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết và truyện thiếu nhi. Mỗi mảng văn xuôi của Thanh Quế là một mảng đời không bình yên không dễ dàng. Nhưng có hậu.

Tôi còn viết nhiều về anh Thanh Quế nhưng hình như mấy vị tòa báo “rung chuông”, tôi sẽ viết phần 2 sau. Phần  hai nghiêng về cuộc sống cá nhân, yêu đương, đi đây đi đó, gặp này gặp nọ giữa tôi và ảnh. Xin khất các bạn vậy.

Trung Trung Đỉnh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.