Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió...

Nguyễn Trọng Tạo tự nhận mình là kẻ ham chơi và anh lãng du miên man trên khắp các vùng đất. Nhưng anh cũng là một người làm nghề nghiêm túc.

Suy nghĩ về nghề văn, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết: “Thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười, gần với khổ đau hơn là reo hát, gần với sẻ chia hơn là chiếm đoạt, gần với chiến thắng mình hơn là răn người… Hay nói như G.Lorca: Thơ gần với máu hơn là mực”. Mấy suy ngẫm này của anh có lẽ đã chạm tới được cái phần cốt lõi tinh thần của thi ca, cái mà thi sĩ bao đời đã phải “lao tâm khổ tứ” tìm cho mình con đường đi qua vô tận mênh mông bể chữ để vượt lên những khổ đau, trăn trở, khao khát của một kiếp người.  

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947, quê ở Diễn Châu, Nghệ An, tham gia quân đội năm 1969, học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1, đã in 9 tập thơ với 6 giải thưởng văn học; có thơ dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Ba Lan. Những thập niên qua, anh nổi danh với tư cách nhà thơ đồng thời nhạc sĩ. Nhạc phẩm “Làng quan họ quê tôi” của anh từng được Dàn nhạc Giao hưởng Lepzic trình tấu trong tuần văn hóa Việt Đức. Tác phẩm mới nhất của anh là tập thơ song ngữ (Việt - Anh) “Ký ức mắt đen” và trường ca “Biển mặn”.

Tôi cảm thấy, hình như trong nhiều bài thơ Nguyễn Trọng Tạo, cái chất đồng dao đã đẩy thơ anh đến gần hơn với âm nhạc và làm bừng dậy một chất nhạc mới trong thơ. Điều này có thể thấy rõ ở bài thơ “Đồng dao cho người lớn” trong tập “Ký ức mắt đen” với những câu thơ sau:

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi

Cái nhịp điệu đồng dao trong bài thơ này tuy có lúc đã bắt nhà thơ phải gieo chữ, nhả vần một cách có khuôn khổ, gò bó nhưng âm điệu phóng túng của đồng dao lại cuốn anh ào ạt đi qua những ngữ cảnh thơ khá sinh động và giàu chất âm nhạc.

Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện văn học đã rất có lý khi nhận xét về phẩm chất thi sĩ của Nguyễn Trọng Tạo: “Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi.

Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn. Cách nói Đồng dao cho thấy được ý hướng sáng tạo của Nguyễn Trọng Tạo. Thơ anh là những khúc hát ngân lên từ cõi nhớ của một kẻ nhà quê lưu lạc.

Lưu lạc mà vẫn nhớ mình là nhà quê, là phương Đông chính hiệu. Vì thế, nếu có đọc thơ Tây cũng là một cách mở rộng, tham bác để cho cái chất nhà quê vừa gắn với cổ điển, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện đại. Hai câu thơ trên đây khép lại bài thơ mà cũng là để mở ra về phía “ngàn năm” từ cái “chớp mắt” khóc cười nghệ sĩ.

Những câu thơ đẫm niềm riêng nhưng cũng là những trải nghiệm khóc cười nhân thế. Nói thế để thấy rằng Nguyễn Trọng Tạo đã biết lắng lại và tự giác ngộ mình trước cõi tham-sân-si trần tục. Mối tương quan giữa chớp mắt và ngàn năm đẩy cảm xúc lên tầm mỹ học về nhân sinh qua cái nhìn của một người biết mình cũng đầy ưu, nhược như ai.

Nhưng người thơ ấy biết tự dặn mình coi thơ như một tôn giáo, đứng trước thơ phải thanh khiết và để lại sau lưng những phiền lụy không đâu. Là một thi sĩ có ý thức đổi mới, Nguyễn Trọng Tạo thấu hiểu một cách sâu sắc, rằng, sự sống còn của người viết là phải nương thân vào chữ nghĩa.

Nơi ấy, hồn nằm trong xác và xác ngụ trong hồn. Không còn cách nào khác, tư cách của nhà thơ chỉ có thể đo ướm bằng sự tỏa sáng của chữ. Tại đó, anh ta trình với mọi người cái vân tay vân chữ của mình trên tờ căn cước bằng giấy trắng mực đen. Hay, dở đã thuộc về kẻ khác. Mọi phân trần hay biện hộ của nhà thơ đều trở thành vô nghĩa…”.

Theo tôi, sự ngạo nghễ và phóng túng trong thi ca đôi khi lại là dấu hiệu của một phẩm chất cá biệt của tài năng, bởi thi tài không mấy khi chịu khép bóng mình trong những khuôn thức cũ kỹ. Trước hết, Nguyễn Trọng Tạo không phải là một người ham phá cách trong thơ nhưng anh luôn có ý thức làm mới thơ ngay ở cả trong những khúc thức cổ điển của các thể thơ năm chữ, bảy chữ và lục bát. Và, bài thơ “Chia” sau đây của anh là một dẫn chứng:

Chia cho em một đời tôi
một cay đắng một niềm vui một buồn
tôi còn cái xác không hồn
cái chai không rượu tôi còn vỏ chai
chia cho em một đời say
một cây si với một cây bồ đề
tôi còn đâu nữa đam mê
trời chang chang nắng tôi về héo khô
chia cho em một đời thơ
một lênh đênh một dại khờ một tôi
chỉ còn cỏ mọc bên trời
một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm…

Ẩn giấu sau những câu thơ tài hoa nói trên là cả một sự ngạo nghễ đầy thi vị đấy chứ! Nhà thơ đã cố cãi rằng, ngay cả khi anh ta chỉ là một cái xác không hồn (vì đã quá yêu em?) thì anh ta cũng rất còn “hay ho” giống như một cái chai đã hết rượu (vẫn còn vỏ chai) đang chờ đợi được rót đầy bởi một thứ rượu lãng mạn say đắm khác của tình yêu muôn thủa.

Nhưng, không chỉ có tình yêu, bài thơ trên còn chia sẻ một nỗi niềm cay đắng, xa xót của người thơ khi đã vắt kiệt mình cho thi ca và tình yêu, khi cuộc đời khép lại trong hình ảnh một bông hoa nhỏ nhoi vừa rơi đâu đó trong những nẻo mưa đêm mờ mịt. “Chia” là một bài thơ lục bát tinh tế và hàm súc bởi cái chất “thi tại ngôn ngoại”.

Nói về tửu lượng thì Nguyễn Trọng Tạo là một thi sĩ vô địch về khoản này. Anh có thể ngồi uống suốt ngày, thậm chí uống cả đêm. Và, khi rượu say, anh nói chuyện càng trở nên có duyên hơn cả khi tỉnh táo. Lúc ấy, với phẩm chất tài hoa của một thi sĩ “coi đời không là cái đinh gì”, anh thường đọc thơ với giọng cao ngạo lạ thường mà người nghe vẫn thấy thú vị.

Một người bạn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là nhà văn Trung Trung Đỉnh có nhận xét khá hay: “Tạo uống rượu giỏi, trên cả giỏi mà phải nói là thành thần. Rượu gì cũng chơi được. Bạn thì lắm loại, loại nào cũng rôm rả, không hề phân biệt.

Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với Tạo, tức là đi uống với Tạo, thấy Tạo vào cuộc, ra cuộc đều thông thoáng. Ở chốn cao sang, đến chỗ bình dân với Tạo một mực như nhau. Chén thù chén tạc, thơ phú nhạc nhẽo ngang nhau, ồn ào, nhão nhoét, thanh cảnh, điệu đà, bèo dạt mây trôi hay chầu văn, hò Huế, đến dân ca xứ Nghệ hay lý ngựa ô Trung Nam, vô mãi tận Nam Bộ sáu câu, lên Tây Nguyên cồng chiêng, món gì, kiểu gì Tạo cũng ngang bằng sổ thẳng.

Bàn chuyện văn chương đông tây kim cổ cũng hay mà nói đến lối sống đương thời, lối nào cũng tỏ. Đường ngang lối tắt, đi mây về gió chơi bời xả láng thâu đêm suốt sáng, thức khuya hì hụp bận rộn tối ngày chỉ vì bận nhậu mà lúc nào mặt mũi cũng tỉnh queo, đôi lần có nhịu giọng, nhưng không thể gọi là bét nhè”.

Bảo thơ Nguyễn Trọng Tạo cũ ư ? Có lẽ, anh sẽ cười ý nhị mà nói rằng: “Cứ hãy cũ đến mức trở thành cổ điển đi để được thấy mỗi ngày đang sống cũng chẳng có gì mới hơn những ngày đã sống qua đâu?”. Bảo thơ Nguyễn Trọng Tạo đang bừng dậy một chất nhạc mới trong thơ ư? Có lẽ, anh cũng sẽ cười ý nhị mà cho rằng: “Cái mới tự thân đã xuất hiện một cách thầm lặng trong mỗi câu thơ hay - theo cách nói của nhà thơ Trần Dần: Người trồng hoa không vẩy nước hoa cho hoa”.

Trong số những nhà thơ đi qua chiến tranh, đến hôm nay, Nguyễn Trọng Tạo vẫn viết đều đặn và vẫn đang tự làm mới thơ mình theo cái cách của anh, vẫn trữ tình, tài hoa đến ngạo nghễ, vẫn mướt mải vắt kiệt mình cho yêu thương và không ít khi, anh bỗng trầm hẳn xuống với những tâm sự khá day dứt như trong bài thơ “Nhà văn”:

Thật may, anh là người chưa nhũn não
ngày lại ngày tự múc óc nuôi mình
ộc ra con chữ
ộc ra tâm can kiến tạo sinh thành
Người đời gọi anh là nhà văn
anh vẫn gọi anh là bác thợ cày
cày trên giấy trắng
những luống chữ đen đen
Anh là chiếc hộp đen tích đầy sự sống
lại ghép những mảnh đời thành nhân vật bước ra
chân thiện mỹ thấp hèn hay độc ác
chẳng là ta mà sao vẫn là ta?
Một thế giới riêng nhà văn mang tới
cho ta yêu cho ta giận cho ta thương
cho ta thấy nhân gian buồn vô tận
những nỗi buồn chấu cắn chẳng buồn hơn
Anh báo động mỗi ngày tình tan rữa
sói thay người thống soái cả trần gian
trong tuyệt vọng anh tin từng con chữ
sẽ cứu rỗi địa cầu dù con chữ mong manh
Bởi anh là nhà văn
anh là người chưa nhũn não…

Ta gặp khá nhiều những bài như thế trong tập thơ “Ký ức mắt đen” của Nguyễn Trọng Tạo, một sự lắng lại sau bao nhiêu trăn trở, vật vã với thi ca để tự làm mới mình sau mỗi chặng đường thơ. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.