Nghệ thuật đặt đầu đề

Một tác phẩm văn học đến với công chúng bắt đầu từ cái đầu đề, cũng như một con người xuất hiện trước tiên với một cái tên. Đời sống càng văn minh thì các bậc cha mẹ càng nhiều toan tính khi chọn cho con mình một cái tên, lắm lúc đến kỳ công, chứ không thể qua loa tuỳ tiện như thuở còn khốn khó cứ gọi bừa Cam, Quýt, Mít, Xoài gì cũng xong. Như vậy, thường khi chỉ bằng vào cái tên ta đã biết được không ít thông tin về một con người. Với tác phẩm văn học, nghệ thuật, sự thể cũng không khác. Và chắc chắn, với những tác giả kỹ tính, việc đặt đầu đề cho tác phẩm cũng là một chuyện đáng để quan tâm.

Thực ra, đầu đề (hoặc “nhan đề”, “tựa đề”) chính là nơi đầu tiên (cũng có khi là cuối cùng) để tác giả thi thố thủ pháp nghệ thuật cao thấp của mình. Một cái đầu đề lý tưởng phải như một giọt nước nhỏ đủ sức phản chiếu bảy sắc cầu vồng lung linh của tác phẩm, nghĩa là vừa phải gói trọn được đầy đủ nội hàm của tác phẩm lại vừa gây ấn tượng mạnh và có sức gợi mở. Và bởi vì tác phẩm nghệ thuật chuyển tải đến công chúng những chất liệu đời sống thông qua ngôn ngữ hình tượng nên điều đó phải bắt đầu ngay từ đầu đề. Ta có thể bắt gặp biết bao nhiêu là cách dùng các thủ pháp ngôn từ mà các nhà sáng tạo văn nghệ cổ kim đông tây đã tung ra ngay từ những cái đầu đề và có thể nói rằng có bao nhiêu cách đặt đầu đề thì cũng có bấy nhiêu bản lĩnh, tài năng, quan niệm và tính cách nghệ thuật của những người đã sáng tạo ra chúng.

Nghệ thuật đặt đầu đề -0
Những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Huy Thiệp... thường có những tác phẩm với đầu đề rất hay và gợi.

Tôi cho rằng, lịch sử đặt đầu đề tác phẩm chính là bức tranh thu nhỏ của lịch sử tiến hoá của ngôn ngữ nghệ thuật, nghĩa là đi từ giản dị, hồn nhiên một cách vô tâm đến sâu sắc, tinh vi, và cuối cùng trở lại giản dị, hồn nhiên một cách chủ tâm.

Thiên tài số một như Sêchxpia thì hầu như đều gọi tên tác phẩm theo tên nhân vật: Hămlet, Macbet, Rômêô và Giuliet, Vua Lia v.v. và v.v... Ở Phương Đông cũng vậy, từ Khổng Tử, Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên... đến các thi nhân đời Đường đều có vẻ không mấy quan tâm đến việc đặt đầu đề, giản dị nhất thì mượn tên thể loại, cầu kỳ một chút thì kể theo việc diễn ra trong nội dung, nhiều khi dài dòng đến nực cười, đại loại như “Đêm ngủ ở nhà... trong núi ở phía Nam, nhân nhớ nhà mà làm...”. Thực ra, những đầu đề như vậy chưa thực sự mang ý nghĩa của đầu đề, nhiều khi chỉ là dòng chú thích.

Phải đợi đến Viên Mai đời Thanh nói rõ ra ta mới hiểu cách nghĩ của người xưa - theo ông này thì thơ vốn là “tính linh”, là tiếng lòng tự nhiên của con người bột phát mà thốt lên tựa như ngôn ngữ của trời đất vậy, và vì thế thơ vốn không có và không cần phải có đầu đề. Ông còn có ý giễu rằng chỉ loại thơ do con người cậy cục nặn ra thì mới cần đến đầu đề! Tôi chẳng biết nhà thơ kiêm phê bình thiên tài này có cực đoan hay không, nhưng quả thực rất, rất nhiều bài thơ tuyệt tác của nhân loại không có đầu đề, chỉ hoặc ghi theo thể thơ (như sonnê, balat, vãn ca, bi ca, phúng thích...), hoặc lấy ngay câu đầu tiên làm đầu đề. Thế mà lại hoá tiện, và xem ra cũng chẳng mất đi cái gì.

Nhưng rõ ràng nhiều tác giả vẫn không nỡ bỏ mặc cho đứa con tinh thần của mình mang cái tên vạ vật, nên các đầu đề vẫn tồn tại và càng ngày càng được đầu tư công sức cho thú vị hơn lên.

Vẫn còn thật thà thì như Bandắc với “Tấn trò đời”, Môlie với những “Lão hà tiện”, “Người bệnh tưởng”, “Trưởng giả học làm sang”, Huygô với “Những người khốn khổ”, Lep Tônxtôi với “Chiến tranh và hoà bình”, “Phục sinh”, Đôxtôiepxki với “Tội ác và trừng phạt”, “Những kẻ tủi nhục”, Turghênhep với “Một tổ quý tộc”, “Nhật ký người đi săn” v.v...

Gọi là “thật thà” nhưng tuyệt đối không phải là thô sơ, đơn giản, ngược lại, những tên sách trên đây đã đạt đến lão thực, giản dị nhưng hàm chứa đủ dung lượng tác phẩm và có một vẻ đẹp cao quý của sự khiêm nhường mà không phải ai cũng dám dùng.

Nhưng quả thực có những cuốn sách và người viết ra nó bắt đầu đòi hỏi những cái tên tinh vi và kỹ lưỡng hơn. Người đầu tiên phải kể đến là Xtăngđan với cuốn tiểu thuyết tuyệt vời mang tên “Đỏ và Đen”, một cái tên mà đến giờ này vẫn không ai dám quả quyết là đã hiểu đúng hoàn toàn, bởi vì một cái tên như thế tự nó cũng là một tác phẩm nho nhỏ và nếu thành công nó cũng mang những đặc thù của nghệ thuật là tính biểu tượng và sức hàm chứa tức là tính đa nghĩa.

Hàng loạt tiểu thuyết gia phương Tây đã gói rất tài tình những ý tưởng và cảm xúc phức tạp, tinh vi của con người hiện đại trong những cái tên sách đầy sức nặng: Pruxt với “Đi tìm thời gian đã mất”, Camuy với “Dịch hạch”, “Người xa lạ”, Xactrơ với “Buồn nôn”, “Bức tường”, Kaphca với “Lâu đài”, Stenbec với “Chùm nho nổi giận”, Rơmac với “Thời gian để sống và thời gian để chết” v.v... Nếu ở Ântìm, thi hào Tago trau chuốt và nâng niu đặt cho thi phẩm sau này được giải Nôben cái tên rất gợi “Thơ Dâng”, thì văn hào số một của nước Trung Hoa hiện đại là Lỗ Tấn cũng phải cất công dài dòng lý giải cho cái việc tại sao lại gọi cuốn tiểu thuyết của mình là “A.Q chính truyện”, một việc mà rất ít khi một nhà văn kín đáo như ông phải làm.

Xu hướng cách tân này trong việc đặt tên tác phẩm cũng thể hiện rất rõ trong văn học Việt Nam. Chỉ cần lấy dẫn chứng nội trong phong trào Thơ Mới ta đã thấy: Nếu nhà thơ tiên phong là Thế Lữ đặt tên tập thơ của mình khá nôm na “Mấy vần thơ”, thì đến nhà thơ tiếp theo là Lưu Trọng Lư cái tên tập thơ đã văn chương hơn “Tiếng thu”, và đỉnh điểm chính là hai tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu và “Lửa thiêng” của Huy Cận, những cái tên rõ ràng được tính toán kỹ lưỡng hơn nhiều. Xuân Diệu không chỉ tính toán cho một tập, mà còn nhìn xa hơn, khi kết thúc cuốn “Thơ thơ” bằng một lời nhắn nhe rất thú vị: “Đến đây tạm hết Thơ thơ, hãy còn Gửi hương cho gió”. “Gửi hương cho gió” là tập thơ tiếp theo của ông. Như vậy là những cái tên đã đi trước một bước, mang màu sắc hoa mỹ và phô trương như một thứ quảng cáo hay maketing vậy.

 Trong giai đoạn văn học đương đại, trên thế giới cũng như ở trong nước ta, câu chuyện về những cái đầu đề vẫn rất hấp dẫn. Tôi nghĩ rằng, xu thế chủ yếu hiện nay là người viết đang tìm đến với những cái tên giản dị và hồn nhiên nhưng có sức gợi mở và gây ấn tượng. Có khi, đó chỉ là cách gọi tên một sự vật hay hiện tượng của tự nhiên hoặc con người bằng một khẩu ngữ thường nhật, nghĩa là những ngôn từ không cần trau chuốt, văn chương gì, chẳng hạn những tên sách, tên phim Trung Quốc gần đây: “Đèn lồng đỏ treo cao”, “Thu Cúc đi kiện”, “Tất cả không thiếu một ai”, “Người Trung Quốc xấu xí”, “Mù sương chuồng bò”, “Nửa đàn ông là đàn bà” v.v... Có vẻ như lối đặt tên tưng tửng và vờ vĩnh thật thà đó đang hấp dẫn một số người viết Việt Nam vì đây đó đã thấy xuất hiện những cái đầu đề nôm na kiểu ấy - chẳng sao cả, còn tốt là đằng khác, nếu sự học tập đó được tiêu hoá để có một cuộc sống thực sự trong tác phẩm của họ. Những tên sách, tên truyện rất hay như “Thời xa vắng” của Lê Lựu, “Tướng về hưu”, “Chảy đi sông ơi”, “Không có vua”, “Thương nhớ đồng quê”... của Nguyễn Huy Thiệp đều có cùng phẩm chất ấy: Giản dị, tự nhiên và gợi mở.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...