“Mưa đỏ” – Bản giao hưởng nhân văn

"Mưa đỏ" đậm chất sử thi, là một bản giao hưởng bi tráng, ở đó, Chu Lai không chỉ phản ánh tinh thần, sức mạnh chiến đấu mà còn thẳng thắn chỉ ra những tổn thất, hi sinh rất lớn và có cái nhìn công bằng hơn khi nói về những người bên kia chiến tuyến...

Từ những tiểu thuyết "Nắng đồng bằng, "Ăn mày dĩ vãng", "Phố", "Ba lần và một lần", "Cuộc đời dài lắm"... và gần đây nhất là cuốn "Mưa đỏ" (NXB Quân đội nhân dân, tái bản lần thứ 2, 2016) của nhà văn Chu Lai cho chúng ta thấy tâm huyết, độ sung sức của một cây bút đã ngoài 70.

"Mưa đỏ" đậm chất sử thi, là một bản giao hưởng bi tráng, ở đó, Chu Lai không chỉ phản ánh tinh thần, sức mạnh chiến đấu mà còn thẳng thắn chỉ ra những tổn thất, hi sinh rất lớn và có cái nhìn công bằng hơn khi nói về những người bên kia chiến tuyến...

Tiểu thuyết Việt Nam từ 1945-1975 thường dựng lên những không gian rộng lớn, khai thác các sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc với âm hưởng sử thi hào sảng, cái hùng lấn át cái bi, quan tâm đến số phận đất nước hơn số phận con người, vì thế, đặc điểm tiểu thuyết giai đoạn này được quy chiếu trong mô hình: kết cấu lịch sử - sự kiện, nguyên tắc đối lập, phân tuyến, cảm hứng sử thi, ngợi ca những anh hùng lí tưởng cách mạng.

Nhà văn Chu Lai.
Nhà văn Chu Lai.

Những tác phẩm như "Nắng đồng bằng", "Út Teng", "Đêm tháng hai", "Gió không thổi từ biển",... của Chu Lai vẫn chịu sự ảnh hưởng của thi pháp tiểu thuyết sử thi dù đã có hơi hướm của thi pháp tiểu thuyết phi sử thi. Phải đến sau 1986, sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật tiểu thuyết ở Chu Lai mới rõ rệt, có sự cơi nới về biên độ hiện thực, quan tâm đến đời sống đương đại, thân phận con người, nhìn nhận chiến tranh đúng như bản chất của nó, chú ý nhiều hơn đến thương đau, tổn thất với sự quyện hòa của cảm hứng bi kịch, cảm hứng thế sự, cảm hứng nhân bản.

Nhờ vậy, thân phận người lính trở thành yếu tố trung tâm và bản chất chiến tranh trở nên sống động, gần gụi. Điều này có thể thấy qua sự xuất hiện của hàng loạt các tiểu thuyết sau này của Chu Lai: "Sông xa", "Bãi bờ hoang lạnh", "Vòng tròn bội bạc", "Ăn mày dĩ vãng", "Phố", "Ba lần và một lần", "Cuộc đời dài lắm", "Khúc bi tráng cuối cùng", "Người im lặng"...

Tuy nhiên, sự phân chia hai mô hình trong sáng tác của Chu Lai chỉ mang tính chất khái quát, tương đối. Ở "Mưa đỏ", chúng ta thấy có sự đan kết giữa hai mô hình trên khi lấy lịch sử - sự kiện của 81 ngày đêm làm nền tảng hồi ức lại những số phận người lính trước tháng ngày bom đạn giày xéo, quần đảo tại Thành cổ. Trên nền lịch sử - sự kiện của 81 ngày đêm khói lửa, chết chóc, mất mát, đau thương, "Mưa đỏ" có sự tham gia của cả hai bên chiến tuyến: ta và đối phương.

Đại diện bên này là Cường. Đại diện bên kia là Quang. Song song với cuộc chiến đấu trên mặt trận máu lửa là người mẹ của Cường, chiến đấu trên mặt trận ngoại giao, một cuộc đàm phán ở Paris cũng hết sức cam go, gay cấn, căng thẳng, có ý nghĩa góp phần thúc đẩy nhanh việc kết thúc nổ súng ở Thành cổ. Cái phông lịch sử ấy hun đúc nên bản giao hưởng "Mưa đỏ": sự hôn phối giữa những tiết tấu lúc trầm lúc bổng, lúc khoan thai lúc réo rắt "dồn dập, xoáy buốt, nóng rãy" (tr.10), như thể "có lửa cháy phần phật bên trong" (tr.10) đã khẳng định tính đa chiều, đối nghịch của hiện thực: "Đó là những giai điệu về chiến tranh, về khát vọng yên hàn, về sự mất mát và lòng kiêu hãnh, về tình yêu và chia ly, về cái lãng mạn và điều trần trụi, về cái nhất thời và cái vĩnh cửu của cuộc đời… về tất cả" (tr.8).

Lên dây cho khuông đàn máu của "Mưa đỏ", nhà văn Chu Lai không quá vội vã, ôm đồm. Ông biết tiết chế giai điệu, vừa đủ, không quá ngắn, không quá thừa thãi, ngày càng mạnh mẽ và tăng dần theo tính chất ác liệt của cuộc chiến. Nơi "mặt sông tám mươi mốt ngày đêm chưa hề có một khoảnh khắc trở lại màu xanh" (tr.338) nhưng dội vào lòng người những nhịp cảm riêng.

Khi bom đạn tước đoạt, lấn chiếm và bao trùm không gian, mọi kinh nghiệm yếu tố huyền thoại hay ảo giác của những giấc mơ trước đây (mà chúng ta từng bắt gặp trong "Ăn mày dĩ vãng") của Chu Lai bị xóa bỏ, thay vào đó là tầng vỉa hiện thực tỉ mỉ để đo bề dày khốc liệt của chiến tranh. Tiểu thuyết "Mưa đỏ" là bản nhạc trung thực khi phản ánh trực tiếp bộ mặt của chiến tranh. Những âm thanh, hình ảnh về sự chia cắt, tan vỡ, cái chết,… được soi chiếu cận cảnh, rõ nét. 

Máu trên bờ và máu trên sông lênh láng, tác động mạnh đến các giác quan của người đọc, cho thấy những tổn thất xương máu của cả hai bên chiến tuyến trong chiến dịch 81 ngày đêm khói lửa là quá khủng khiếp, ác nghiệt. Bởi thế, khi Chu Lai thốt lên:"Có lẽ ba tiếng Dòng sông máu mới nói lên đầy đủ được cái hình hài quặn đau kinh hoàng của nó" (tr.185) thì chiến tranh tự thân đã mổ xẻ gương mặt bất thường, đầy nghịch lý của nó.

Tiểu thuyết "Mưa đỏ" nhà xuất bản Quân đội nhân dân -2016 của nhà văn Chu Lai.
Tiểu thuyết "Mưa đỏ" nhà xuất bản Quân đội nhân dân -2016 của nhà văn Chu Lai.

Sự phối hợp nhật ký - tiểu thuyết không lạ trong văn xuôi đương đại. Nhưng ở đây, Chu Lai đã giúp chúng ta có cái nhìn rõ nét, toàn diện khi tựa vào hai điểm nhìn: điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn của nhân vật chính - Cường, để luận bàn về chiến tranh. Nếu điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba đánh giá một cách khách quan cuộc chiến thì điểm nhìn nhân vật (Cường giãi bày qua các trang nhật ký), vừa kể lại vừa lập luận, đánh giá hiện thực chiến tranh, thông qua đó, nhà văn bộc lộ quan điểm cũng như những định nghĩa về tình yêu, về chiến tranh, về số phận người lính.

Nhờ điểm nhìn của Cường (qua những trang nhật ký), nhà văn có điều kiện khúc xạ nỗi đau chiến tranh thêm lần nữa, gần hơn, sâu hơn, buốt hơn. Ngoài ra, Chu Lai còn khơi gợi và dẫn dắt chúng ta đi vào điểm nhìn tâm linh, sợi dây gắn kết giữa người mẹ và đứa con trai của mình. Rất nhiều lần nhà văn nhắc đến sợi dây thần giao cách cảm gắn bó thiêng liêng này.

Ám ảnh nhất là sự giao cảm cuối cùng của hai mẹ con. Khi Cường gọi hai tiếng "mẹ ơi" trước khi từ giã cõi đời, đến đây, Cường đã hoàn tất bản giao hưởng 81 ngày đêm, bản giao hưởng đời mình. Sự đồng vọng, khúc xạ trong tình mẹ con đã quyện nên giai điệu trầm bổng của bản giao hưởng: "Và ẩn trong gió dường như có một thanh âm mơ hồ nào đó như âm hưởng bản giao hưởng Cổ Thành nhè nhẹ nhen lên, chảy sâu vào tấm lòng người mẹ. Bản giao hưởng thao thiết và hào hùng. Bản giao hưởng máu" (tr.351). Trước Thành cổ đổ nát, tang thương, khúc giao hưởng của đứa con đã từ giã tuổi 22 thêm lần nữa sà vào lòng người mẹ, quẫy lên những đớn đau chưa thể nào nguôi: "Khúc giao hưởng ấy đang quẫy lộng làm dòng nước dưới kia biến dạng, chuyển sang màu đỏ ngầu, sôi sủi…" (tr.354).

Việc Chu Lai cân đo đong đếm chiến tranh qua hai lần tái hiện (hiện thực cuộc chiến đang xảy ra và cuộc chiến được Cường kể lại với mẹ qua nhật ký), khai thác đời sống tâm linh qua những linh cảm trực giác đã tránh lối mòn quen thuộc của các tiểu thuyết trước đây, vừa bày ra một thế giới nội tâm đầy bí ẩn của con người vừa giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về nỗi đau, nỗi mất mát mà những người lính như Cường, như mẹ Cường phải đánh đổi.

Yếu tố lịch sử - sự kiện 81 ngày đêm rực lửa ở Thành cổ đi vào tác phẩm không còn cứng nhắc mà đã có sự linh hoạt, mềm mại hơn khi vận vào nó những tiếng nói, cảm xúc của nhân vật. Chu Lai để những người lính như Cường, Bình, Sen,… tự giãi bày tâm tư tình cảm của mình, tự nói lên những tính toán, so đo thiệt hơn, do đó, hình ảnh họ hiện lên chân thật, rất đời thường, dung dị, vừa có vẻ đẹp anh hùng của người lính vừa có vẻ đẹp lãng tử, nghệ sĩ. Kiểu nhân vật anh hùng - nghệ sỹ này khá quen thuộc trong sáng tác của Chu Lai mà chúng ta đã bắt gặp ở "Ăn mày dĩ vãng", "Phố", "Cuộc đời dài lắm",..

Vẻ đẹp vừa lí tưởng vừa đời thường, nghệ sỹ của các nhân vật, không đơn thuần bị ảnh hưởng bởi cái nhìn lãng mạn hóa đã tạo nên dấu ấn riêng trong thủ pháp xây dựng nhân vật của Chu Lai. Chiến tranh đẩy họ rơi vào những tình huống trớ trêu, nếm trải mọi gian khổ, vui buồn, sống chết bấp bênh, vì vậy, trong chiều sâu nội tâm, không thể không có những khoảnh khắc riêng tư, yếu lòng. Điều mà văn học giai đoạn trước xem cái riêng tư như là vấn đề nhạy cảm, ít đụng chạm đến.

Viết nhiều về chiến tranh, nhưng chưa bao giờ Chu Lai đánh mất sức hấp dẫn, lôi cuốn của nó, bởi sự chân thành, nghiêm túc, sáng tạo trong lao động nghệ thuật của mấy chục năm cầm bút. Trên cái nền vừa hài hòa vừa đối chọi, vừa lãng mạn vừa hiện thực của cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm vào mùa hè năm 1972, người đọc được lắng nghe âm hưởng chân thật, thống thiết của nỗi đau, để rồi từ đó hướng đến sự hàn gắn: "Khói nhang bay bảng lảng lên cao rồi nhòa tan vào cảnh vật xa dần như những linh hồn tử sĩ nhòa tan vào trời đất. Bay sang cả bức phù điêu tưởng niệm các liệt sĩ sinh viên nằm cạnh đó rồi dừng lại, quẩn quanh như không muốn bay tiếp đi đâu nữa" (tr.355). Do đó, có thể khẳng định, "Mưa đỏ" là điểm nhấn thành công của Chu Lai trong dòng văn học chiến tranh thời hậu chiến.

Đại Lải, 9-5-2017

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.