Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: Trăm năm một cõi dư âm

Thuở sinh thời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý vẫn nhận mình sinh năm 1924, tức năm Giáp Tý, chứ không phải năm 1923 hay 1925 như nhiều người lầm tưởng. Vậy nên hai cụ song thân mới đặt tên cho ông là Tý. Có lẽ trong số nhạc sĩ nổi tiếng, chỉ có ông mang cái tên giản dị và quê kiểng đến thế. Như cái tên mộc mạc, âm nhạc Nguyễn Văn Tý luôn thấm đậm phong vị “nhà quê” từ mỗi nơi người nhạc sĩ tài hoa đặt chân đến.

Gắn liền với hàng loạt tuyệt phẩm như: “Mẹ yêu con”, “Dáng đứng Bến Tre”, “Dư âm”, “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa”, “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”, “Bài ca năm tấn”..., nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được coi là một trong những cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh ra tại Vinh, Nghệ An. Thuở nhỏ, ông mê mẩn tiếng trống chèo, nhịp phách, câu hát văn của cha. Đó là cái nôi đầu tiên đưa ông đến với âm nhạc.

Ông tiếp xúc với âm nhạc Tây phương trong những năm tháng theo học Trường Quốc học Vinh. Năm 1945,Nguyễn Văn Tý tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Văn Tý bắt đầu năm 1947 khi ông là Trưởng phòng Thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương. Sau đó, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng Đoàn Văn công của Sư đoàn 304.

ns nguyen van ty.jpg -0
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý.

Thời gian này, Nguyễn Văn Tý nổi lên như một hiện tượng khi bản “Dư âm” ra đời. Đó là năm 1950, đang làm Trưởng đoàn Văn công Sư đoàn 304, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được một người bạn giới thiệu tìm hiểu một người con gái khác ở Thanh Chương để ông đỡ cô đơn với cảnh “gà trống nuôi con” khi vợ đầu mất đã ba năm. Ông đang trò chuyện với người con gái do bạn giới thiệu thì một cô bé chạy ra, gác đầu lên vai chị ngắm anh chàng nhạc sĩ lạ lẫm. Đôi mắt đen láy hồn nhiên cười với ông. Bằng ánh mắt nhìn nhau ngại ngùng lần đầu gặp gỡ, nàng cảm nhận được tình cảm mà chàng nhạc sĩ dành cho mình. Chẳng lẽ tình chị, duyên em? Nỗi buồn từ đó thêm thăm thẳm, mịt mùng trong hai tâm hồn thơ trẻ.

Đêm không ngủ, chàng ra ngõ ngắm trăng. Bên kia, trên ngạch cửa, nàng ôm đàn dìu dặt phím loan. Hình ảnh nàng thiếu nữ huyễn hoặc dưới ánh trăng đã khiến ông không thể cầm lòng để viết nên bản “Dư âm” ngay trong đêm ấy. Đến tận bây giờ, bản nhạc đó vẫn làm đắm say bao người bởi lời ca ảo diệu, đẹp đến vô ngần: “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ/ Không gian trầm lắng như âu yếm ru ai trong giấc mơ/ Mái tóc nhẹ rung, trăng vờn làn gió/ Yêu ai anh nắn cung đàn đầy vơi đôi mắt xa vời…”.

“Dư âm” trở thành ca khúc nhạc tiền chiến nổi bật và hiếm hoi của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bởi sau này, ông chuyển hẳn sang phong cách khác. Đó là dòng nhạc cách mạng mang đậm hơi thở cuộc chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân cần lao. Khác với nét yểu điệu, thùy mị của “Dư âm”, những bài hát về sau như “Cô đi nuôi dạy trẻ”, “Em đi làm tín dụng”, “Bài ca năm tấn”, “Chim hót trên cánh đồng đay”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”… đều mộc mạc, giản dị. Nhưng cái chất trữ tình, đằm thắm và tinh tế từ “Dư âm” vẫn không ngừng len lỏi trong đoạn đường sáng tác tiếp theo của ông.

Là đạo diễn chương trình nghệ thuật tưởng niệm 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý mang chủ đề “Dư âm còn lại” sắp diễn ra tại TP Hồ Chí Minh, NSND Lê Thụy cho biết ông rất nể phục nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bởi cái tài nghệ thuật hóa các vấn đề thời sự - chính luận, đưa những bài hát ca ngợi cuộc sống bình dân đương thời đi vào lòng người.

Đạo diễn Lê Thụy phân tích: “Lúc bấy giờ rất nhiều nhạc sĩ cũng viết đề tài này. Thế nhưng không nhiều người “thắng”. Cụ Tý là nhạc sĩ hiếm hoi có nhiều tác phẩm như thế để đời. Vì sao vậy? Vì chất dân ca vùng miền thấm đẫm trong mỗi ca khúc của cụ. Không chỉ bám sát tính thời sự, cụ còn đi nhiều, sống gần gũi chan hòa với bà con nông dân nên dễ dàng tiếp cận ngôn ngữ, âm điệu dân gian từng vùng miền để đưa vào tác phẩm. Hiếm ai dám đưa cả nồi cám lợn (Người giỏi chăn nuôi) hay phân tro (Bài ca năm tấn) vào âm nhạc mà hát lên vẫn tự nhiên, thuận miệng chứ không bị thô thiển, khiên cưỡng như cụ. Có cảm giác âm nhạc cụ Tý là âm nhạc của một anh nhà quê chân đất, áo vải nhưng vô cùng tài hoa. Bởi có tài hoa, cụ gieo vần rất xuất sắc, các bài hát đều không bị cưỡng âm”.

Nếu “Tiếng hát bản Mèo” mang đậm phong vị vùng cao Tây Bắc thì khi hòa mình vào đời sống cần lao của người nông dân quê lúa Hưng Yên, Thái Bình, ông tìm cho mình chất liệu sáng tác phong phú để làm nên “Chim hót trên đồng đay” (1963),“Dòng nước quê hương”(1963), “Tiễn anh lên đường” (1964), “Bài ca năm tấn” (1967). Viết về phương Nam, ông cũng có nhiều tác phẩm nổi tiếng. Và trong số ca khúc đó không thể không nhắc đến nhạc phẩm “Dáng đứng Bến Tre” hay “Gương mặt Kiên Giang”. Chẳng ai ngờ đó là sáng tác của một người miền Trung vì các nhạc phẩm đều rặt Nam Bộ. Để làm được như thế, ông đã mất 5 năm học làm người Nam. Học từ cách ăn, cách nói, cách nghĩ và cả … cách nhậu!

Hà Tĩnh là mảnh đất nhiều duyên nợ với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. Nơi đây, ông có nhiều bài hát để đời. “Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh” (sáng tác năm 1974) từ lâu đã được mặc định là “tỉnh ca” của Hà Tĩnh. Nghe những câu hát như: “(Chứ) Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh/ Nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông La/ Nhớ biển rộng (mà) quê ta ớ ơ ơ ơ…”, vị chủ tịch tỉnh khi ấy cứ khen Nguyễn Văn Tý mãi. Một bài hát về Hà Tĩnh thuộc dạng “đặt hàng” nhưng cũng làm lay động bao người con núi Hồng, sông Lam đó là “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”.

Năm 1976, gặp ông, lãnh đạo tỉnh than thở: “Hiện giờ tỉnh chưa có bài hát nào ca ngợi về xây dựng, thủy lợi cả. Hồ Kẻ Gỗ đang xây, anh xem có sáng tác được bài nào không?”. Vậy là ca khúc ra đời nhưng không hề gượng ép và đầy chất thơ quyện trong không khí lao động hăng say của những chàng trai cô gái. Cả hai bài hát trên đều phảng phất làn điệu dân ca ví, giặm xứ Nghệ. “Cũng vì tôi không phải là người Hà Tĩnh mà viết hay như người Hà Tĩnh chính hiệu nên các vị lãnh đạo và nhân dân nghiễm nhiên phong tôi là “công dân danh dự” của tỉnh” - nhạc sĩ nhớ lại.

Viết tỉnh ca, ngành ca xuất sắc như vậy nên đi đến tỉnh nào, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cũng được lãnh đạo, nhân dân địa phương đó vô cùng quý mến. Năm 2006, ông đến Quy Nhơn - Bình Định dự cuộc thi sáng tác ca khúc của tỉnh. Một buổi sáng chủ nhật, thấy hai bàn chân nhạc sĩ sưng to, ông bí thư thành ủy hốt hoảng đưa ông đến bệnh viện. Dù là ngày nghỉ và ca của nhạc sĩ không thuộc dạng cấp cứu, nhưng tập thể y bác sĩ hết lòng thăm khám. Rốt cuộc nhạc sĩ chẳng bị sao cả, chỉ vì ngồi nhiều nên chân mới sưng.

Nhưng chính sự săn sóc, tiếp đón ân cần ấy đã khiến nhạc sĩ rất cảm động. Chỉ trong vòng 20 ngày, ông sáng tác xong hai ca khúc mà bình thường chưa chắc hai tháng đã viết xong: “Yến hót tạ ơn Quy Nhơn - Bình Định” và “Đây thôn Vĩ Dạ” (phổ thơ Hàn Mặc Tử). Bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử dù nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc nhưng ông vẫn thấy hình như khúc thức nhìn chung còn thiếu ít nhiều cái chất Huế. “Tôi phổ bài này không phải để hơn kém những bài khác đã phổ, mà chủ yếu để có một bài rất Huế tặng vợ tôi”.

Dự cuộc thi, ông nhận thấy khi viết “tỉnh ca”, các nhạc sĩ vẫn còn ngại kể ra nhiều địa danh nên gương mặt quê hương chưa thật rõ. Là bậc tiền bối giàu kinh nghiệm, ngoài chất dân ca mỗi vùng miền, ông cho biết: “Trong cách vẽ nên gương mặt quê hương, ta không nên ngại dùng nhiều địa danh mà chủ yếu phải khái quát thế nào cho lời ca vẫn trôi chảy tự nhiên và tương đối đủ. Đó chính là tính trung thực trong văn nghệ không thể thiếu”.

Hồi ông còn tại thế, tôi vẫn thường hay ghé thăm. Trong căn nhà nằm cuối con hẻm yên tĩnh trên đường Trần Khắc Chân, quận 1, TP Hồ Chí Minh, lúc nào cũng có một ông già đầu tóc bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, ngồi trên xe lăn ngóng ra cửa sổ. Ông chờ người đến thăm, chờ một cái bắt tay, chờ một câu trò chuyện. Dẫu hôm ấy, chẳng có ai hẹn. Lão nhạc sĩ thèm tiếng người đến nỗi chiếc tivi lúc nào cũng mở hết công suất. Bấu víu vào mớ âm thanh ồn ã ấy, ông mới thấy đời mình vơi bớt quạnh quẽ khi hai cơn tai biến không cho ông đi đâu được nữa.

Nói về tuổi mình, ông tự trào bằng câu ca dao: “Trai ngồi chữ Giáp có tài/ Gái ngồi chữ Giáp phải hai lần đò”. Cái tài thì đã rõ, nhưng tình duyên của ông cũng khác gì phận nhi nữ. Hai người vợ đều sớm bỏ ông về thế giới bên kia, để cuối đời ông sống thui thủi một mình. Tình yêu, nỗi đau, mất mát… quyện vào tài hoa để nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phát tiết nên gia tài âm nhạc đồ sộ, mà muôn kiếp sau dư âm tiếng tơ còn ngân vọng mãi…

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.