“Không đề”với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Là nhớ chuyện cũ, kể nghe vậy thôi. Thật ra tôi là một trong những người rất thích và thuộc không ít thơ, nhạc của Nguyễn Trọng Tạo. Từ "Làng quan họ quê tôi" (thơ Nguyễn Phan Hách), “Khúc hát sông quê” cho đến "Không đề"… 

Đầu năm 1994, tôi về làm  biên tập viên NXB Công an nhân dân. Lương thấp, tôi được cơ quan ưu ái cho ngủ luôn tại phòng làm việc, sáng giúp ông bảo vệ quét cái sân, đỡ tốn khoản tiền thuê nhà trọ. Suốt ba năm rưỡi như thế. Thành thử khách đến cơ quan, bất kể khách của ai, tôi đều biết tuốt. Thật ra thì chỉ có hai dạng “hạt cơ bản”: Bạn rượu - văn chương của nhà văn Phùng Thiên Tân và mấy cô bạn của nhà thơ Trương Nam Hương. Người đến liên hệ công tác không tính, bởi chẳng ai đến buổi tối cả.

Cuối năm, anh Trương Nam Hương dắt về một ông gầy gầy, tóc xoăn xoăn, bảo tôi: “Sáng mai em chịu khó đưa anh Tạo đi mấy nơi nhé. Anh…bận quá”. Tôi “ừ”. Rồi cứ thế, suốt nửa tuần, tôi cứ xách cái xe đạp cà tàng chở “ông tóc xoăn” đi suốt. Nhiều nơi, nhưng tất cả đều là các tờ báo, tạp chí có trụ sở tòa soạn tại TP Hồ Chí Minh.

Một vài tạp chí không có tòa soạn, chủ bút tiếp ông tóc xoăn hiền lành dễ thương tại quán cà phê cóc nào đó. Thêm vài ba cuộc ngồi trà đá ngay tại trụ sở Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh ở 81 Trần Quốc Thảo. Tôi là "tài xế riêng", chỉ ngồi chầu rìa, nghe hóng chuyện các đàn anh chứ tuổi gì mà tham gia cao đàm khoát luận?!

Nhưng, người cuối cùng mà anh Tạo, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo “cần gặp” lại chính là…tôi. Mục đích chuyến du Nam cuối năm của anh ấy là đi “rải” thơ Tết đến tất cả các toà soạn báo lớn nhỏ có in thơ. Thật không may, tôi lúc đó lại đang là người đặt bài, biên tập, đặt họa sĩ kiêm mo-rat, kiêm coi in, kiêm luôn cả việc đóng gói gửi tàu lửa của tờ “Tác phẩm tuổi xanh”, đứng tên Tổng biên tập là nhà thơ Định Hải; chủ nhiệm trên danh nghĩa là nhà văn xứ Cầu Bố Phùng Thiên Tân. Anh Nguyễn Trọng Tạo đưa 3 bài, viết tay, bảo: “Không in hết cũng cố gắng in 2 bài nhé. Bài còn lại để in số đầu năm cũng được”. Rất dễ tính, tôi chỉ “Dạ!”.

Giờ đây chắc hẳn nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo và nhạc sỹ Văn Cao đã gặp nhau ở một thế giới khác.
Giờ đây chắc hẳn nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo và nhạc sỹ Văn Cao đã gặp nhau ở một thế giới khác.

Cận Tết, khi báo Xuân đã phát hành hết, anh Tạo lại vào. Tôi lại xe đạp lóc cóc chở anh đến các tòa soạn “thu hoạch” - nhận nhuận bút các bài thơ. Thật may mắn, tôi được anh giới thiệu hoành tráng là “nhà thơ, nhà văn trẻ, viết hay lắm đấy” nên các báo đều ưu ái tặng riêng cho một tờ báo Xuân.  Về đến tòa soạn, nhà thơ Trương Nam Hương hỏi: “In được bao nhiêu bài cả thảy?”. Tôi lôi mớ báo Xuân ra đếm và đáp dấm dẳn: “34 tờ”.

Trương Nam Hương cười, trêu anh Tạo: “Ừ đấy! Đi với chú Lam hiệu quả thật. Nhưng vẫn thua Hương nhé: 35 bài”. Tối đó, anh Tạo lôi tôi đi uống bia với mấy anh đàn anh văn chương Sài Gòn. Và tôi hiểu: chiến dịch "rải thảm" thơ của anh đã kết thúc. Ba mùa Tết, tôi đã góp phần giúp anh Tạo rải khoảng 100 bài!

Khi tôi đã sắm được xe máy thì anh Tạo cũng thôi không vào Nam rải thơ nữa. Hình như lúc đó các nhà thơ đã có thể tiệm cận công nghệ 2 chấm rưỡi (2.5), có thể gửi bản thảo thơ qua đường fax và nhận nhuận bút qua đường bưu điện. Trương Nam Hương và tôi cũng cùng chuyển sang báo An ninh Thế giới. Cơ quan mới không có chỗ nên cũng chẳng thấy anh Trương Nam Hương hẹn em nào tại trụ sở vào buổi tối. Gã nhà thơ ấy có tiệm cận được công nghệ yêu đương qua đường bưu điện hay không thì tôi không biết.

Mùa hè năm 1998, tôi tham gia Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc. Tối, đang lơ vơ ở sảnh khách sạn La Thành, nghe “Trạng Nguyên không mũ áo” Nguyễn Quyến ba hoa chích chòe về chuyện em này em nọ… thì anh Tạo kéo một lô nhà văn trẻ đến. Anh Tạo bảo: “Biết Lam ra, tôi tìm ông mãi”. Rồi quay sang đám lóc nhóc, anh giới thiệu: “Khách VIP, bạn anh đấy. Giờ đi nhậu thôi”. Đột nhiên tôi nổi cáu. Tính tôi không ưa đãi bôi. Giọng của tôi khi đó chắc là rất cà chớn. Tôi dấm dẳn: “Thôi đi ba, gặp thì con sẽ chào, ba tìm con làm quái gì”. Anh Tạo sầm mặt, quát: "Ơ, cái thằng bố láo. Tao không tìm mày thì tìm ai. Mày coi coi, có bao nhiêu cuộc điện thoại mà mày không thèm bốc máy, hả”.

Trời ạ, lỗi tại tôi mọi đàng. Từ chiều đến tối, tôi không nghe bất kỳ cuộc điện số lạ nào. Trong số đó, anh Tạo gọi tôi gần chục cuộc. Tôi chữa ngượng: “Sư huynh sắm di động thì phải báo chứ. Chỉ có số, không lưu tên, tôi biết vua quan nào mà nghe!”. Rồi thì anh em cười xòa, kéo nhau về nhà nhà văn Nguyễn Thành Phong uống rượu. Hối lỗi, bữa đó tôi uống như hũ chìm, không chối ly nào nên say bí tỉ. Sáng mai, Hội nghị khai mạc, tôi kệ, nằm phòng khách sạn ngủ luôn đến quá trưa!

Là nhớ chuyện cũ, kể nghe vậy thôi. Thật ra tôi là một trong những người rất thích và thuộc không ít thơ, nhạc của Nguyễn Trọng Tạo. Từ "Làng quan họ quê tôi" (thơ Nguyễn Phan Hách), “Khúc hát sông quê” cho đến "Không đề"… Khổ thay, “Thơ tình tặng người mất trí”, bài tôi thích nhất, đọc trong cuốn “Mưa đền cây” từ hồi còn học phổ thông, tôi lại chỉ thuộc đúng mỗi một câu.

Cách đây chừng chục hôm, tôi còn nhắn tin qua Facebook hỏi, nhờ anh chép lại hoặc chỉ đường dẫn giúp để tìm lại bài thơ, vì không muốn nó trôi khỏi ký ức mình.  Không thấy anh trả lời, tôi lo lo, bởi biết anh đang ốm nặng. Thơ anh, tôi thích, bởi nó nhẹ nhàng, chịu đựng, khoan hòa và tha thiết như đời anh, cách cư xử của anh. Bởi, nó buồn và thẫn thờ không khác gì tâm trạng của tôi ngay bây giờ (chiều tối ngày 7.1.2019), lại áp Tết rồi, khi nghe tin anh lại vừa phải vào bệnh viện... 

Và cũng bởi, nó gợi lên cảm giác mất mát nhưng chấp nhận, chân thành - thứ tình yêu thuần khiết chỉ có ở những người nhân hậu, vị tha với cuộc  đời, chỉ có nơi lãng tử. Rồi lục mãi, nhờ mãi cũng có ông anh nhớ giùm cho:

THƠ TÌNH TẶNG NGƯỜI MẤT TRÍ

Bao nhiêu hoa ngày xưa anh đã tặng em
Và bây giờ em không còn bên anh nữa
Nhưng mùa xuân vẫn sống trong trí nhớ
Anh cầm hoa đứng sững bên đường

Trời xanh quá, trời sâu thăm thẳm
Những đóa hoa buồn lặng lẽ tỏa hương.

(Nguyễn Trọng Tạo)

Và đây nữa, một bài khác, tôi cũng rất thích và thuộc từng dấu phẩy:

KHÔNG ĐỀ

Anh trót để tình yêu tuột mất
Xin em đừng tha thứ hay giận hờn
Hoa li vàng cọ chân anh như nhắc
Một chiều buồn sóng trắng biển Quy Nhơn
Anh trót để em ra đi vô cớ
Đến một ngày, không thể hiểu vì đâu
Em hút bóng dừa xanh, vai khép gió
Không bao giờ quay lại mối tình đầu
Anh trót để ngôi sao bay khỏi cát
Biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời
Điều Có Thể đã hoá thành Không Thể
Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi...

(Nguyễn Trọng Tạo)

Suốt chiều, tôi đã ngồi đọc lại. Và mong là lần này có một phép màu, anh Tạo lại qua khỏi và khỏe lại. Để mùa sau, mùa sau nữa, tôi lại tiếp tục ra ngoài Bắc dấm dẳn cự nự rồi uống rượu cùng anh, lại được đọc thơ anh mỗi độ mai vàng. Cứ nhủ thầm, khỏe lên nhé, anh Tạo. Nếu anh thích, cứ vô Nam, tôi lại lấy xe đạp lóc cóc chở anh đi thêm nhiều mùa Tết nữa!

Từ chiều đến tối, trong 3 giờ, tôi đã phải 3 lần sửa bài viết về anh ở trong đầu. Sửa và kỳ vọng một phép nhiệm màu. Nhưng ngọn đèn lụy bấc, sau 72 mùa xuân, anh đã thôi nấn ná nơi cõi tạm.

Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã về cõi vĩnh hằng lúc 19h50 ngày 7.1.2019.

Xin thắp một nén hương tiễn anh về "úp mặt vào sông quê"!

7.1.2019

Nguyễn Hồng Lam

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.