Hiểu thêm học giả Phan Khôi qua "Di cảo"

Vài năm trước tôi đã có bài viết về bài thơ mở đầu phong trào thơ mới, không phải tiên sinh Tản Đà như lâu nay nhiều người vẫn nghĩ mà chính là Phan Khôi với bài thơ “Tình già” bản in đầu tiên trên tờ “Phụ nữ tân văn” số 122 ra ngày 10-3-1932. Và, cái mới thời nào cũng vậy thường dị ứng với cái cũ! Thời đó tác giả bài thơ đã bị không ít người phản bác, đả kích mà tiêu biểu là bài “Nhàn ngâm” của Tùng Thành cũng đăng trên tờ “Phụ nữ tân văn”: “Trách bác Phan Khôi khéo rắc rối/ Noi gương Hồ Thích làm thơ mới/ Câu dài câu ngắn chẳng ra sao/ Vần đụp, vần đơn nghe thật thối”.

Tôi nhắc lại điều này để nói rằng Phan Khôi tuy tự nhận mình chỉ là người viết báo, nhưng thực ra ông là một nhà thơ, một dịch giả hiểu nhiều, biết rộng. Những bài viết, bản dịch về ông trong “Phan Khôi di cảo” đã nói lên chân thực con người ông, một người yêu nước, một trí thức chân chính, một học giả thẳng thắn, mang cốt cách của con người xứ Quảng.

“Trung Quốc cổ đại xã hội nghiên cứu” là tác phẩn viết về lịch sử của Quách Mạt Nhược người được coi là “Nhà bác học” của Trung Quốc hiện đại. Qua bản dịch của cụ Phan Khôi tôi thực sự hiểu rằng, khá nhiều điều của xã hội Trung Quốc thời đó tương đồng với xã hội Việt Nam thời phong kiến. Và xã hội Trung Quốc mấy ngàn năm cũng có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam qua các triều đại trong lịch sử. Chính từ bản dịch này tôi hiểu được phần nào ý tưởng của dịch giả Phan Khôi trong sự mong muốn “Thức tỉnh” người dân trên quê hương mình.

Chính cụ Phan Khôi đã từng thổ lộ: “Tôi bắt đầu viết báo ở Hà Nội năm 1918, rồi viết ở Sài Gòn, ở Huế cho đến năm 1941. Trong sự viết báo, tôi nhằm mục đích là đem lại khoa học và dân chủ cho dân tộc ta, cho nên, bước thứ nhất, tôi từng đả kích Khổng giáo chuyên chế và Tống nho duy tâm” (Kiểm thảo sơ bộ).

screen shot 2021-11-05 at 10.27.45.jpg -0
Học giả Phan Khôi (1887 – 1959).

Như vậy, ta thấy rõ tư tưởng yêu nước, tiến bộ của Phan Khôi trong việc mong muốn thay đổi chế độ Phong kiến thực dân. Tôi thiển nghĩ, người trí thức chân chính có nhiệm vụ tối thượng là đem những hiểu biết, những kiến thức của mình để “thức tỉnh” dân chúng, hướng người dân đến tư tưởng tiến bộ, để đất nước thoát khỏi những ràng buộc của tư tưởng thực dân, phong kiến vì một nước Việt Nam mới.

Trong bài viết “Kiểm thảo lại cái gọi bằng dân chủ ở Trung Quốc đời xưa” học giả Phan Khôi đã bằng những luận cứ cụ thể, khá thuyết phục để chứng mình luận thuyết mà chủ tờ báo tiếng Pháp L Annam thời đó cho rằng: “... Cái chủ nghĩa dân chủ ấy không xa lạ gì với chúng ta đâu, nó không hẳn từ phương Tây truyền sang mới có mà hai ngàn năm trước ở phương Đông đã có rồi...”. Quan điểm cho rằng Mạnh Tử là người có tư tưởng DÂN CHỦ, như vậy từ hai ngàn năm trước Trung Quốc đã có tư tưởng dân chủ qua câu nói của Mạnh Tử “Dân vi quý, xã tắc thứ chỉ, quân vi kinh”. Học giả Phan Khôi cho rằng:... “Dân chủ dù là dân chủ tư sản chăng nữa, cũng phải gồm có cái nguyên tắc “của dân, bởi dân, do dân” thì mới gọi là dân chủ được. Trong câu của Mạnh Tử không thể gồm đủ cái nguyên tắc ấy, làm đầy đủ cái lượng của nó, chỉ có thể gọi là thuyết “Dân quý” hay “Quý dân” mà thôi. Cái cơ bản nhất của dân chủ cụ Phan Khôi đã nói rất đúng đó là LUẬT PHÁP, hay nói đúng hơn là THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT, mà cái đó chưa hề có ở xã hội phong kiến.

Không chỉ viết báo, trước đó, học giả Phan Khôi đã có những hoạt động yêu nước trong phong trào Duy Tân “... Ban đầu tôi vận động công khai ở Quảng Nam theo phái Phan Châu Trinh. Năm 1908, nhân vụ “xin xâu” tôi bị tù ba năm. Năm 1911 được tha về, tôi tham gia vận động bí mật… Năm 1913-1914 tôi thấy làm như thế này cũng chẳng biết bao giờ thành công, mà tư tánh của mình cũng không thích hợp lắm, bấy giờ tôi xin phép và từ giã anh em về nhà mở trường dạy học, vừa dạy học vừa học thêm, dự định tương lai viết sách, làm báo, phục vụ tổ quốc về mặt văn hóa”. (Đời chính trị).

Trong các bài viết về những nhà yêu nước thời bấy giờ, học giả Phan Khôi có những nhận định khá chuẩn xác: “Từ năm 1906, phong trào chính trị ở ta có hai phái: “Một là Phan Bội Châu lo vận động cách mạng ở nước ngoài, một là Phan Châu Trinh lo mở đường dân trí ở trong. Hai người ấy chỉ có một mục đích, nhưng họ phân công với nhau, thành ra thấy như đi khác nhau...” (Đời chính trị)

Trong bài “Duy Tân khởi nghĩa” học giả Phan Khôi bằng thực chứng của chính bản thân mình đã chỉ trích chính quyền thực dân Pháp thời bấy giờ: “Về vụ này, trước hết phải cải chính một điều mà do thực dân Pháp đã cố ý làm sai sự thật. Người chủ động vụ Duy Tân khởi nghĩa là Thái Phiên, không phải Trần Cao Vân. Nhân vì Thái Phiên là người theo dõi vận động cách mạng hai mươi năm, từng ở vị trí lãnh tụ, còn Trần Cao Vân có vẻ như đạo sỹ hay thầy phù thủy, cho nên sau khi vỡ việc, bọn Pháp, trên báo chí lợi dụng cái nhược điểm ấy của Trần Cao Vân mà dìm Thái Phiên xuống để làm cho cuộc khởi nghĩa vô giá trị...”.

screen shot 2021-11-05 at 10.27.58.png -0

Không phải chỉ trong các bài báo mà bản dịch, mà trong các bài thơ, ca, hò vè nhằm thức tỉnh dân chúng, cụ Phan Khôi cũng đã nói lên cái khổ nhục của người dân trong chế độ phong kiến thuộc địa thời bấy giờ:

Dân trong tỉnh Quảng Nam mình
Không kham sưu thuế ức tình phải kêu
Kể ra cực khổ trăm chiều
Quan coi dân dưới như rều rác trôi...”

(Dân Quảng Nam xin sưu)

Trong bài “Vè cúp tóc” cụ Phan Khôi đã quyết “Cắt”, quyết “Cúp” hết bọn Tây xâm lược:

 “... Ở với ông Tây
Hãy còn ăn mặn
Hãy còn nói láo
Phen này ta cúp
Phen này ta cạo...”.

Cả những vị quan nô lệ thời bấy giờ, cụ Phan Khôi cũng không tha:

“...Oai quyền trong xó oai chi đó
Đè nén trên đầu có biết không?”

(Vịnh ông Táo)

Đọc “Tự thuật tiểu sử sơ lược” trong “Di cảo” càng hiểu hơn tư tưởng yêu nước, sự hiểu biết sâu rộng của học giả Phan Khôi được nuôi dưỡng từ truyền thống gia đinh: “... Cha là Phan Trân, đậu Phó bảng, làm Tri phủ, từ chức ở nhà từ năm ba mươi chín tuổi. Mẹ là Hoàng Thị Lệ con gái ông Hoàng Diệu, chết sớm (Hoàng Diệu, Tổng đốc Thành Hà Nội đã dũng cảm chiến đấu với quân Pháp xâm lược, trong giờ phút lâm nguy, quyết không đầu hàng, cụ đã tuẫn tiết trên thành để lại gương sáng cho đời sau)... Thái độ chính trị của những người thân thuộc trước kia: “Cha là người ái quốc, ghét Tây...”.

Dù là viết về vấn đề gì, học giả Phan Khôi cũng đi đến tận cùng, bằng kiến thức hiểu nhiều, biết rộng, luôn hướng tới cái mới, cái hay, cái đúng. Tôi rất thích điều này. Trong bài “Những con số không nhất định trong từ ngữ” cụ Phan Khôi đã so sánh, lý giải, làm sáng tỏ về một vấn đề mà ít ai hiểu hết, ít ai nghĩ tới về con số 3 và con số 9 trong dãy số học mười con số: “... Tóm lại, số ba và số chín trong các từ ngữ vừa kể trên đều là số nhiều không xác định, khác nhau chỉ ở chỗ: một là số nhiều nhỏ, một là số nhiều lớn trong các số cơ bản”.

Sâu xa mà dí dỏm, hài hước mà thâm trầm, tôi thiển nghĩ chỉ có những người thông minh thực sự mới có được. Học giả Phan Khôi trong “Di cảo” đã thể hiện nhất quán điều này trong các bài viết. Có hai câu mà nhiều người biết nhưng không biết tác giả là ai, nay đọc “Phan Khôi di cảo” tôi mới hay cụ Phan Khôi đã viết trêu đùa bạn văn tại đại hội văn nghệ năm 1957:

Xuân Diệu, Xuân Sanh, Xuân tóc đỏ
Tú Nam, Tú Mỡ, tú lơ khơ”

(Vài câu thơ nghịch ngợm)

Bây giờ những lúc tôi tự cân bằng mình thường đọc mấy câu thơ rất hiện đại mà gần đây mới biết là của cụ Phan Khôi:

Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi
Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao”.

Đọc “Di cảo” tôi càng hiểu vì sao chính nhà thơ, nhà báo, học giả Phan Khôi chứ không phải ai khác đã là người mở đầu cho PHONG TRÀO THƠ MỚI qua bài thơ “Tình già”.

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.