Giải ngộ nhận về nguồn gốc Truyện Kiều

Ngày 17 tháng 9 năm 2020, Báo Tuổi trẻ có đăng bài thuật lại ý kiến của ông Lê Nghị và nhóm (từ đây gọi tắt là Lê Nghị) “Thử “giải mã” lại “Truyện Kiều”, trong đó có trình bày nhiều quan điểm ngược hẳn với thành tựu nghiên cứu xưa nay về “Truyện Kiều”, tác phẩm đỉnh cao của văn học cổ điển Việt Nam.

Có những ý kiến gay gắt phê phán việc "nghiên cứu" làm loạn “Truyện Kiều”. GS. Nguyễn Văn Dân thì đề nghị "cấm tiệt, không đăng trên báo những bài như Lê Nghị" để tránh làm nhiễu loạn thông tin... Vấn đề này, chúng tôi thấy cần nhìn nhận lại cho rõ.

Những luận điểm lạ về nguồn gốc “Truyện Kiều”

Ý tưởng chung là nhóm tác giả này muốn chứng minh “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không phải là sáng tác trên cơ sở cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc, mà ngược lại “Truyện Kiều” có trước, sau đó nhóm Thanh Tâm Tài Tử người Việt Nam diễn thành “Kim Vân Kiều truyện”, từ đó truyền sang Trung Quốc thành “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, lưu ở thư viện Đại Liên (nơi vẫn coi là tìm ra một trong các bản cổ “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc), và người Trung Quốc nhận là sáng tác của họ.

Bìa và trang cuối của cuốn "Thông tục Kim Kiều truyện" của Nhật Bản, dòng thứ 3 từ trái qua ghi rõ năm xuất bản: "Bảo Lịch thứ 13, Quý Mùi, Chính nguyệt" (1763, cụ thể là tháng Giêng) (Tư liệu của Đoàn Lê Giang).
Bìa và trang cuối của cuốn "Thông tục Kim Kiều truyện" của Nhật Bản, dòng thứ 3 từ trái qua ghi rõ năm xuất bản: "Bảo Lịch thứ 13, Quý Mùi, Chính nguyệt" (1763, cụ thể là tháng Giêng) (Tư liệu của Đoàn Lê Giang).

Quan điểm này đi ngược lại thành tựu nghiên cứu lâu nay của các học giả Việt Nam và nước ngoài, từ Phạm Quỳnh, Lê Thước, Phan Sĩ Bàng, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Dương Quảng Hàm, Giản Chi và các học giả sau này. Điều này dẫn tới những hệ lụy nghiêm trọng:

- Nó có thể gây mất niềm tin về toàn bộ nền khoa học xã hội nước nhà nghiên cứu về “Truyện Kiều” trước nay;

- Gây hoang mang cho các thầy cô giáo, sinh viên, học sinh đang dạy - học môn ngữ văn;

- Khiến cho các học giả nước ngoài không hiểu giới học thuật Việt Nam đang ở tình trạng nghiên cứu và tâm lý nào;

- Và cuối cùng người ta tưởng đưa ra kết luận ấy là đề cao Nguyễn Du, nhưng thực ra là hạ thấp ông, vì nếu sự thật ngược lại: “Kim Vân Kiều truyện” có trước, “Truyện Kiều” có sau thì hóa ra “Truyện Kiều” không có giá trị gì?

Dù bài báo có cẩn thận ghi ở cuối rằng: “còn cần thêm nhiều nghiên cứu khác về xuất phát “Truyện Kiều” để tường minh hơn về đại thi hào Nguyễn Du và tác phẩm đã đi vào lòng muôn đời người Việt”, thì dòng chữ ấy vẫn bị chìm vào những kết luận “động trời” của bài viết.

Xem qua các luận điểm của Lê Nghị, những người có quá trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” thấy ngay tất cả đều sai. Ví dụ: Thứ nhất, ông Lê Nghị viết: “Minh Mạng chỉ đạo các văn thần, gọi tên chung là Thanh Tâm Tài Tử soạn một cuốn bình giảng thơ “Kim Vân Kiều truyện” của Nguyễn Du. Cuốn bình giảng đầu tiên là “Kim Vân Kiều lục””.

Ý tưởng này có 2 chỗ sai:

Một là, “Kim Vân Kiều lục” không phải là cuốn “bình giảng” mà là cuốn truyện viết bằng văn xuôi thuật lại “Truyện Kiều”. Cuốn này Phạm Tú Châu đã dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 2015 (Dịch và nghiên cứu “Kim Vân Kiều lục”, NXB. Khoa học Xã hội);

Hai là, “Minh Mạng chỉ đạo…”- Đó chỉ là lời người viết tự kể chuyện, mà không có chứng cứ văn bản nào.

Thứ hai, việc Minh Mạng xem và đổi tên “Đoạn trường tân thanh”  (tức “Truyện Kiều” thành “Kim Vân Kiều truyện” thì học giả Trần Văn Giáp đã nói từ lâu. Nhưng lạ một cái là khi trích đoạn này trong bản “Kim Vân Kiều truyện” Hán Nôm cổ (ký hiệu B60), Lê Nghị đã cắt xén một cách khó hiểu chỗ bất lợi cho mình. Xin chép lại đầy đủ:

“Sách “Kim Vân Kiều truyện” vốn là sách “Thanh Tâm Tài Nhân lục” của Bắc quốc, Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là “Kim Vân Kiều truyện”, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) “Đoạn trường tân thanh”” (Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2, NXB. Khoa học Xã hội, 1990, tr.134).

Những ghi nhận ấy của sách Hán Nôm cổ cùng với quá trình nghiên cứu của các học giả 100 năm nay tưởng cũng đã đủ để kết luận: “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc có trước, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được sáng tác trên cốt truyện ấy có sau, nhưng trở thành kiệt tác của văn học thế giới.

Tuy nhiên Lê Nghị tung ra luận điểm rằng “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc lưu ở Thư viện Đại Liên là sách giả. Đối với giới nghiên cứu chuyên nghiệp thì những kết luận như vậy là không có cơ sở, nhưng để cho rõ ràng, tôi xin đi đường vòng, không dùng tư liệu Trung Quốc nữa mà dùng tư liệu Nhật Bản.

“Kim Vân Kiều truyện” có ở Nhật Bản từ trước khi Nguyễn Du ra đời

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã được dịch ra tiếng Nhật từ khá sớm, người dịch là nhà văn nổi tiếng Komatsu Kiyoshi. Người Nhật đặc biệt yêu thích “Truyện Kiều” qua bản dịch này, trong vòng 6 năm nó được tái bản đến 3 lần (Toho hakkosho, 1942; Toho shoten, 1943; Kaikosha xuất bản, 1948). Nhờ thế các học giả Nhật Bản mới chú ý tìm xem có “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc truyền đến Nhật Bản không. Họ phát hiện ra ở Nhật có các bản dịch, phóng tác “Kim Vân Kiều truyện” khá phong phú.

Người đầu tiên đề cập đến vấn đề này là GS.Hatakenaka Toshiro (1907-1998) ở Đại học Ngoại ngữ Osaka. Năm 1959, Giáo sư Hatakenaka đã trình bày bài “Kim Vân Kiều và văn học thời Edo”, sau đó đăng trên tạp chí Văn học so sánh của Hội Văn học so sánh Nhật Bản (số 3, tháng 9-1960, tr.37-54) với nhan đề “Kim Vân Kiều khảo”. Năm 1972, ông trở lại vấn đề này với bài viết: “Về Kim Vân Kiều” đăng trên tạp chí Đại học Ngoại ngữ Osaka (số 27, ngày 25-01-1972, tr.11-21). Bài viết được đưa vào sách “Kim Vân Kiều của Nguyễn Du”, Takeuchi Yonosuke dịch (Kodansha xuất bản, 1975). Đoạn đầu bài nghiên cứu viết:

“Bản “Kim Kiều truyện” dịch sang tiếng Nhật thành “Tú tượng thông tục Kim Kiều truyện” (“Kim Kiều truyện thông tục” có tranh minh họa) được xuất bản vào năm Bảo Lịch 13 (1763). So với niên đại nguyên bản được thuyền buôn đưa sang (1754, nói ở trên) thì khá sớm. Bản này được lưu giữ ở Thư viện Đại học Tenri, gồm 7 sách, 5 quyển, 20 hồi. Cuối sách 7 có ghi: “Tháng Giêng, năm Quý Mùi, Bảo Lịch thứ 13 (1763) (…) Người dịch sách này là Nishida Korenori người vùng Omi mất năm Minh Hòa thứ hai (1765)”.

Những thông tin này tôi đã giới thiệu từ 25 năm trước trên Tạp chí Kiến thức ngày nay số Xuân 1996 và sau đó trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 năm 1999. Năm 2003 tôi đến Thư viện Đại học Tenri (gần Nara) để nhìn tận mắt, sờ tận tay bản dịch “Thông tục Kim Kiều truyện” và xin sao chụp lại (318 trang, khổ 28 cm x 36 cm, 20 tranh minh họa). Tôi được biết GS.Trần Đình Sử cũng có cuốn này từ năm 1996 khi ông đi Nhật.

Gần đây, nhà nghiên cứu Vương Trung Hiếu cũng đã tìm được những tư liệu mới nhất về “Kim Vân Kiều truyện” ở Nhật Bản. Ông đã giới thiệu bài “Ảnh hưởng của tiểu thuyết tài tử giai nhân Trung Quốc - Trường hợp Bakin của GS.Isobe Yuko” (trích từ Kỷ yếu của Đại học Takaoka, quyển thứ 18, xuất bản 2003 tại Nhật Bản). GS.Isobe Yuko cho biết:

“Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản trong thời kỳ Edo (1603 - 1868), từ đó về sau có nhiều bản dịch truyện này sang tiếng Nhật. Năm 1763, xuất hiện bản dịch “Thông tục Kim Kiều truyện” của Nishida Korenori, được xem là bản dịch “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc sớm nhất (Nguồn gốc “Truyện Kiều” trang Facebook Vương Trung Hiếu 18/9/2020).

Với tư liệu rõ ràng như thế về năm xuất hiện bản dịch “Kim Vân Kiều truyện” của Nhật Bản, vấn đề “Kim Vân Kiều truyện” có trước, “Truyện Kiều” sáng tạo lại, chuyển thể thành truyện thơ từ tác phẩm này coi như đã rõ.

Trong văn học cổ điển thế giới, sự lưu chuyển cốt truyện là việc rất bình thường: từ bi kịch về “Hoàng tử Hamlet” của F.Belleforest, Th.Kyd; từ kịch “Những năm tuổi trẻ của Cid” của Castro qua ngòi bút thiên tài của W.Shakespeare, P.Corneille, mà thành kiệt tác “Hamlet”, “Le Cid”.

Vì thế không vì yêu quý Nguyễn Du mà cố tình “cưỡng tình đoạt lý” chứng minh “Truyện Kiều” có trước và tạo ra “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc để làm gì. Dù có kế thừa tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, “Truyện Kiều” vẫn là một kiệt tác đỉnh cao của văn học Việt Nam và của văn học Đông Á, đó là điều mà “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân không làm được.

PGS.TS Đoàn Lê Giang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.