Cửa Tùng làng xanh từ ‘tọa độ lửa’

Cửa Tùng - một cửa biển đã thành "địa chỉ đỏ" trong những ngày cả nước sục sôi đánh Mỹ, một huyết mạch quan trọng để nhân dân Vĩnh Quang (Vĩnh Linh) ngày đêm vận chuyển lương thực vũ khí cho đảo Cồn Cỏ tiền tiêu. Trong quá khứ dũng cảm bám trụ vừa chiến đấu vừa sản xuất để lập nên những chiến công hiển hách, ngày nay trong sự nghiệp đổi mới nhân dân Cửa Tùng  lại ra sức xây dựng làng xanh hơn, đẹp hơn.

Vững tay chèo trước lưới lửa đạn bom

"Cửa Tùng bến lớn muôn đợt sóng cuộn vô bờ, dong cánh buồm khơi đưa con thuyền vượt xa nơi nơi..". Câu hát về bến Cửa Tùng thời thơ ấu thầy giáo đã tập cho tôi, giờ đây vẫn xúc động khi tôi đang đứng trước làng xanh bên bến nước xanh.

Cửa Tùng cửa của sông Bến Hải đổ về biển Đông nằm ngay ở vĩ tuyến 17, ngày nay thuộc hai xã Vĩnh Quang và Trung Giang (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị). Khói lữa chiến tranh sau bốn thập kỷ đã lùi xa, nhưng người dân Quảng Trị và nhân dân cả nước có thể nào quên về tội ác của giặc Mỹ tàn sát cỏ cây, bủa vây sông nước, giết hại đồng bào ta thuở ấy. Có thể nào quên được chứng tích anh hùng của bến đò A hiên ngang hừng hực, vững tay chèo trước mưa bom, bão đạn quân thù.

Một góc Thị trấn Cửa Tùng hôm nay.
Một góc Thị trấn Cửa Tùng hôm nay.

Buổi sáng tháng tư này nắng xanh và gió lộng, sau khi bách bộ trên chiếc cầu Cửa Tùng dài và đẹp, thả hồn  ngắm sông, ngắm biển, ngắm thuyền thỏa thuê, trung úy Ngô Văn Lực dẫn tôi đến thăm Địa đạo 61. Mắt tôi bỗng nhòe đi khi nhìn lên tấm bia đá  " Ngày 20 tháng 6 năm 1967 giặc Mỹ đã ném bom giết hại 61 đồng bào Vĩnh Quang, trong đó có 12 cụ già, 13 phụ nữ (có 3 phụ nữ đang mang thai, 36 cháu nhỏ). Những con số và con chữ này càng minh chứng cho mọi người hiểu vì sao có tên gọi "Địa đạo 61". Nhưng thảm khốc ấy làm sao đè bẹp được ý chí và lòng quả cảm nhân dân Vĩnh Quang " một tấc không đi, một ly không rời".

Họ lấy Cửa Tùng làm trận địa, càng ác liệt bao nhiêu con người ở xứ sở này càng lạc quan, đoàn kết và yêu thương bấy nhiêu. Một ngày ghi thêm một chiến công là một ngày tăng niềm tin sắt đá vào đích thắng lợi cuối cùng của dân tộc.

Tại "Địa đạo 61" dưới tượng đài hình chữ A sáng ngời ngôi sao vàng năm cánh, bao nhiêu du khách đến thắp nén nhang tri ân  lại một lần nữa thuộc thêm bài học lịch sử: "Bến đò A cửa Tùng nơi ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt của quân và dân Vĩnh Quang, Đồn công an vũ trang, Đoàn 1A hải quân, Bộ đội chủ lực bộ đội địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Năm 1954 đây là nơi đấu tranh chính trị bảo vệ Hiệp định Giơnevơ đối với tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Năm 1965 - 1972 là điểm giao thông quan trọng trên sông Bến Hải trực tiếp chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và đảo Cồn Cỏ. Với 82000 lượt đò đã vận chuyển 2 triệu lượt người, hàng vạn tấn lương thực, vũ khí, hàng hóa chiến đấu 392 trận, bắn rơi 4 máy bay, cùng Đoàn 1A hải quân bắn chìm 6 tàu chiến địch. Hàng chục cán bộ đã anh dũng hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Bến đò A là niềm tự hào quê hương lũy thép anh hùng".

Câu chuyện những người trên bến đò A ngày ấy dẫu cho hàng trăm trang sách, hàng trăm  thước phim hôm nay tái hiện lại, cũng chưa thể nói hết sự bền bỉ quyết liệt và sự mất mát hy sinh của họ.

Ông Hồ Ngọc Bình, Chủ tịch HĐND thị trấn Cửa Tùng nhắc lại: "Hồi nớ bến đò A rộng mênh mông như rứa, trên trời dưới nước mần răng mà che mắt  tụi hắn được. Hàng ngày các loại pháo từ ngoài hạm tàu bắn vào, rồi lại từ Cồn Tiên, Dốc Miếu bắn ra. Máy bay địch đủ các loại, ngày đêm ném bom tới tấp xuống bến đò. Nhưng dẫu có chết đi chăng nữa thì dân đây đâu có sợ, kể cả những lúc nguy hiểm hơn chúng rải bom từ trường, bom nổ chậm dày đặc lòng sông và ở hai đầu bến. Người dân vẫn ngày đêm  vững tay chèo cho con thuyền rẽ nước đưa bộ đội vượt sông".

Tất nhiên muốn đưa bộ đội từ chuyến này đến chuyến khác vượt sông an toàn, phải biết tổ chức lực lượng đội "cảm tử quân", phải có chiến thuật, kỹ thuật trong việc rà phá bom mìn. Ban chỉ huy xã đội Vĩnh Quang  hồi đó đã triển khai một tổ rà phá bom mìn từ dưới lòng sông đến trên bờ. Phối hợp với bộ đội công binh đoàn 270, vừa rà phá bằng khí tài, vừa kết hợp với phương tiện thủ công.

Những người phá bom mìn hồi ấy bây giờ vẫn được trang sử quê hương in đậm nét "Các chiến sĩ Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Lân, Trần Nhỡ kết hai hoặc ba vỏ thùng phuy xăng, buộc vào sợi dây dài hơn 150 mét rồi thả xuống dòng nước. Người đi trước theo dòng xuôi của chiều dòng chảy, cầm sợi dây kéo chiếc bè thùng phuy gặp bom từ trường dưới lòng sông kích nổ. Cũng có lúc do yêu cầu khẩn cấp phải nhanh chóng thông bến, chiến sĩ ta dùng thuốc nổ đánh xuống lòng sông kích nổ dây chuyền..".

Cụ Bảy Tri một bậc cao niên trong làng Vĩnh Quang thuở ấy đã từng tham gia vận chuyển hàng ra đảo Cồn Cỏ vẫn nhớ rành rọt: Cồn Cỏ  là vọng gác tiền tiêu nên khu ủy Vĩnh Linh tháng 9 năm 1964 đã ra lời kêu gọi "Tất cả vì đảo " với quyết tâm "còn đảo còn đất liền". Lời kêu gọi ấy giống như lời hịch vang vọng khắp sông quê bến nước Cửa Tùng, ai cũng háo hức được ra Cồn Cỏ. Anh Lê Ái vợ mới sinh được hai ngày vẫn xung phong ra phục vụ đảo.

Tinh thần yêu nước không chỉ thắp sáng vào trái tim tuổi trẻ mà đốt cháy rừng rực trong tim tuổi già. Các cụ Hồ Ngọc Kiền, Hồ Ngọc Kỉnh, Lê Ẹt, Lê Ngẫu, Hồ Ngọc Bớt, Phạm Chung là những ngư dân khỏe lại có nhiều kinh nghiệm trong dong thuyền ra khơi vào lộng, thay phiên nhau chở hàng chục chuyến lương thực, thực phẩm, vũ khí đến với các chiến sĩ mặt trận đảo Cồn Cỏ an toàn.. Hồi tưởng lại những con thuyền của các lão ngư thời ấy vượt qua những "vành đai lửa", cụ Bảy Tri ghìm nén xúc động nói :

-  Riêng hai cụ Phạm Chung và Hồ Ngọc Bớt sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ rồi, cấp trên cho các cụ về nhưng hai cụ vẫn tiếp tục xin ở lại để tiếp tục cầm lái đưa thuyền ra đảo. Cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp của hai cụ, chi đoàn vận tải đoàn 22 đã kết nạp hai cụ Chung và Bớt làm "đoàn viên danh dự" của chi đoàn vào tháng 9 năm 1965. Ngày 28/1/1967 trong một chuyến chở quà bánh, lương thực của đồng bào cả nước gửi các chiến sĩ Cồn Cỏ đón Tết  Đinh Mùi, thuyền hai cụ bị tàu địch bắn chìm. Cụ Chung, cụ Bớt đã anh dũng hy sinh trong chuyến đi này.

Cửa Tùng - bức tranh xanh ngày mới

Đêm tháng tư đi trong ánh trăng thanh nhìn bãi biển Cửa Tùng điện sáng như sao sa,  lại nhìn ra khơi xa dung dăng những đoàn thuyền đánh cá mới thấm được thi vị Cửa Tùng trong sắc thái thanh bình. Ban đêm Cửa Tùng hiện lên vẻ đẹp mộng mơ, ban ngày Cửa Tùng hiện lên vẻ đẹp dịu dàng rực rỡ. Tôi đứng dưới chân cột đèn hải đăng chiêm ngưỡng được "đường mi vàng" của bãi cát. Bờ cát vàng dài hơn một cây số với độ dốc thoải thoải, nước biển xanh như mắt ngọc đã trở thành bãi tắm lý tưởng của  du khách.

Phiên chợ chiều Cửa Tùng.
Phiên chợ chiều Cửa Tùng. 

Người ta bảo rằng: Hai bãi đá ngầm ăn sâu ra biển từ hai phía là mũi Si và mũi Lai đã tạo nên một cái "vịnh nhỏ và kín đáo". Không có các dòng hải lưu cuộn xoáy, tạo cho  bãi biển này khi bơi không lo sóng dập, không lo nước cuốn.

Bãi tắm Cửa Tùng không chỉ là thương hiệu của thị trấn Cửa Tùng, nó là thương hiệu của huyện Vĩnh Lĩnh nữa. Thời gian qua, huyện Vĩnh Linh vừa quản lý, vừa tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kè chắn cát, hệ thống nhà chòi với số vốn gần 45 tỷ đồng. Chắc hẳn trong một tương lai gần, khi hệ thống nhà hàng, nhà nghỉ được nâng cấp tốt hơn. Khi các dịch vụ đều đáp ứng với nhu cầu của khách bãi tắm Cửa Tùng, lượng hành khách trong nước và nước ngoài sẽ tăng lên gấp bội.

4/2015

Phan Thế Cải

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.