Cái thương nhường cái giận

Lâu lắm mới nằm chung với lão Nọi, bà ngỡ mình hóa thiếu nữ xuân thì, sống lại cảm xúc bồi hồi, ngượng ngập đêm ngủ thăm năm ấy. Khung cảnh trùng hợp như xưa hay hồi ức thanh xuân khiến bà thấy không gian chợt nhuốm màu hoài niệm. Cũng ánh trăng tràn loang bên cửa sổ. Cũng lửa hồng thức đợi suốt canh thâu. Cũng cơn gió sợ cánh ban nát nhàu. Và, hơi người sưởi ấm lòng chăn chiếu.

Bà Hiêng vừa gạt nước mắt, vừa xếp vội mấy bộ quần áo cũ, nhét vào bao tải ngả màu cháo lòng. Lần này, bà bỏ đi thật, đinh ninh dặn lòng không bao giờ quay lại với kẻ tệ bạc ấy nữa. Bốn mươi chín năm kề gối chung chăn và có với nhau ba mặt con gái, lão Nọi vẫn không tin vợ.

Âm thanh cú tát từ bàn tay khoằm khoằm thô kệch của lão còn vẳng trong đầu bà. Cú tát như dồn tụ hết mọi ghen tuông, giận dữ cả đời lão cộng lại khiến bà xây xẩm mặt mày. Bà đứng ở bậc cuối cầu thang, nhìn lại ngôi nhà hai vợ chồng từng lặn lội mưa gió ra suối lũ vớt từng cây gỗ về xây dựng như đôi chim nộc thua túc tắc tha rơm đắp tổ.

Có lần bà sẩy chân, suýt chút nữa bị chúa thuồng luồng bắt mất. Lão cứu được bà, ôm chặt bà vào lòng, tự hứa sẽ không giờ để vợ phải khổ. Lồng ngực bà nghèn nghẹn như bếp lửa tắc mùn cưa. Bà nhìn con đường đất đỏ phía trước, lần chần bước đi, tai vẫn còn nghe rền rền tiếng ngáy của lão nơi cái giường gần cửa sổ. Con khướu bên cành ban liến thoắng hỏi bà: “Đi đâu đấy? Đi đâu đấy? Đi đâu đấy?”.

Lão Nọi uể oải tỉnh dậy, thấy căn nhà vắng tanh. Miệng lão vẫn còn đắng ngoét hơi rượu sót tối qua. Đầu lão ong ong như vỡ tổ muỗi. Ngáp dài một cái, lão buột miệng gọi khàn: “Bà Hiêng ơi”. Đáp lại lời lão là tiếng kêu meo meo của con mèo đen nằm co ro bên góc bếp đã lụi tro từ bao giờ, lạnh ngắt. Lão giật mình ngồi dậy, vỗ vỗ trán gọi trí nhớ quay về.

Hôm qua lão uống rượu ở quán phở đầu thị trấn, uống từ tang tảng sương cho đến lúc mặt trăng trèo lên đỉnh núi mới khật khưỡng đi về. Về nhà, thấy bà Hiêng đang ngồi bên bếp khâu lại cái đũng quần của mình, lão giật lấy làm mũi kim cào xước một vệt nhỏ ri rỉ máu trên mu bàn tay bà. Lão chỉ tay vào mặt bà: “Tao không cần con vợ như mày!”. Bà Hiêng chưa hiểu chuyện gì, lão tức giận phà phà hơi rượu nồng nặc vào mặt bà: “Tại sao mày cho nhà thằng Thởi chiếc quan tài? Con lợn nái già, gần bảy mươi tuổi rồi, mày vẫn thương nó phải không?”.

Bà vừa mấp máy môi định giải thích thì lão tiếp tục bịt miệng bà bằng những tràng chì chiết dồn dập: “Đừng tưởng thằng này không biết gì nhé. Tao thành sợi rơm, cọng cỏ trong mắt mày rồi”. “Ông muốn nghĩ thế nào cũng được!”. Cục tức trong đầu lão vỡ bung ra như quả trứng gà chọi trứng. Lão lấy đà tát một cái bốp thật mạnh vào má bà khiến cả hai người đều loạng choạng không vững, bà lảo đảo đổ lưng vào bồ thóc, lão liêu xiêu ôm lấy cái cột kèo.

z7665129505915_112dc7afe4be6d23cf0d19d4cd75d89c.jpg -0
Minh họa: Đào Quốc Huy

Những cây ban dọc hàng rào nhà anh cả nở hoa trắng muốt như chào đón bà trở về. Bà lừng khừng ngoài cổng mãi, đau đáu nhìn về phía nhà vợ chồng mình nằm thoi thóp trên sườn núi xa xa rồi đắn đo nhìn ngôi nhà anh cả đang lơ phơ mấy sợi khói nhạt, chưa dám bước vào. Anh cả chống gậy tập tễnh ra đón em gái. Biết chuyện, anh cả áy náy: “Tao làm hại mày rồi, em gái ơi!”. Bà vịn vào tay anh cả, sụt sịt: “Em chẳng còn nơi nào để đi nữa”. Sắp xếp cho bà một gian nhà nhỏ đối diện với góc bếp, anh cả nói với vợ: “Cái Hiêng về ở với vợ chồng mình cho đỡ buồn, bà ạ”. Tiếng ừ của chị dâu mắc nhẹ trong cổ.

Tuổi mười sáu, Hiêng đẹp nức tiếng bản gần, làng xa. Màn đêm buông xuống, mỗi khi Hiêng thắp ngọn đèn mỡ lợn là gian buồng Hiêng nằm lại rổn rảng tiếng chọc sàn. Tiếng chọc sàn làm ánh lửa vàng nhảy nhót như muốn phót ra khỏi bấc đèn. Cả Nọi và Thởi đều mê Hiêng như rượu ngô ngày cơm mới. Nọi da trắng mịn, dong dỏng cao, làm nghề thợ mộc. Thởi da ngăm nâu, dáng chắc đậm, làm nghề thợ săn. Những tay thợ săn có tài như Thởi được dân bản trọng vọng lắm. Bởi, mỗi lần nhóm săn của Thởi đi rừng về, thể nào bản cũng được một bữa thịt ê hề.

Anh cả khuyên Hiêng chọn Thởi làm chồng: “Đàn ông như thằng Thởi mới làm trụ cột trong nhà được, em ạ. Mày không chịu mở lòng, nó đến ngủ thăm nhà khác thì lúc đó chỉ nằm mà tiếc thôi!”.

Ngày ấy, Hiêng tựa như một đóa hoa ban ngậm sương e ấp nở thầm bên hiên nhà. Anh em Hiêng mồ côi bố mẹ. Lời anh cả nói là ngọn gió ấm, gió thổi hướng nào, hoa ban nghiêng cánh theo hướng đó. Hiêng nghe lời anh cả, mở cửa cho Thởi vào ngủ thăm. Thởi nằm bên cạnh Hiêng, vâm váp như thân cổ thụ. Ngọn đèn mỡ lợn vừa tắt, mùi máu tanh trong nếp áo Thởi dậy lên lờm lợm như thể những oan hồn muông thú đang rùng rùng trỗi dậy đòi mạng. Hiêng rùng mình, co người lại...

Đêm sau, Hiêng không dám thắp đèn. Tiếng sáo ai thổi rơi rơi bên cửa sổ như chuỗi hạt cườm tuột dây lăn xuống miệng đêm. Mùi máu khô khăn khẳn ấy dường như còn lảng vảng đâu đây. Cứ nhắm mắt, Hiêng lại thấy hàng chục đôi mắt thú rừng xanh lét từ trong bóng tối chòng chọc nhìn Hiêng oán thán. Những đôi mắt oan uẩn dồn đẩy Hiêng vào cơn ác mộng kinh hoàng.

Thởi đang cầm dao nhọn thọc nhiều nhát liên tiếp vào cổ con gấu lớn. Con gấu giơ hai tay lên trời, nhe răng cười hềnh hệch như sấm rền. Và, những tia máu quanh cổ nó đua nhau phun ra tạo thành một cơn mưa nhoẹt nhòe sắc đỏ... Mơ đến đó, Hiêng hốt hoảng choàng dậy, khó thở như có súc gỗ rừng đè ngang ngực.

Mặt trời xuống núi, bếp củi đượm hồng, hành nướng thơm nồng, bà Hiêng vẫn chưa về nhà. Trời động mưa nổi gió rì rào. Mấy ngọn gió cụt đầu va vào những ô cửa sổ loạng soạng. Bà ấy đi đâu được nhỉ? Lão Nọi sốt ruột cầm đèn pin đi tìm bà Hiêng. Lão luýnh quýnh lên mảnh nương gần nhà. Lão cuống cuồng ra con suối đầu bản. Nương lao xao tiếng lá ngô khua động. Suối rì rào lời nước chảy thê lương. Chẳng thấy bóng dáng vợ đâu. Chỉ thấy một đôi dép cao su sứt quai màu đen sờn cũ xếp ngay ngắn trên bờ.

Lão hơi chợn rợn trong lòng. Nói dại, hay là bà ấy... Bà có mệnh hệ gì thì tôi cũng đi theo bà luôn đấy, bà Hiêng à! Nghĩ đến đó, chân tay lão bủn rủn, cứ gọi ời ời: “Bà Hiêng ơi! Bà Hiêng ơi!”. Một người hàng xóm đi bắt hến về muộn, xin lại đôi dép và xởi lởi báo cho lão biết: “Trưa nay, tôi gặp bà Hiêng bên bản Sái Ngoài. Bà ấy vác một cái bao tải đựng quần áo thì phải”.

Thi thoảng, chớp rạch một phát chộp giật như cái bóng đèn chập điện. Con khướu nhốt trong cái lồng treo dưới cành ban giật mình, kêu toáng lên inh ỏi: “Hiêng cứu tôi! Hiêng cứu tôi! Hiêng cứu tôi!”. Hóa ra, trong cái nhà này, nó chỉ biết mỗi tên bà Hiêng. Thì lão Nọi có bao giờ bón cho nó ăn, tập cho nó nói đâu. Lão bế nó vào gầm sàn, nó mới chịu nín. Trời dọa mưa mãi mà chưa mưa. Xem ra, trời có ý giúp mình rồi đây.

Lão Nọi định bụng sang nhà anh vợ đón bà Hiêng về thì con lợn nái lên cơn đau đẻ. Thôi chết, sao bà Hiêng lại bỏ nhà đi đúng lúc này có khổ không cơ chứ! Lão soi đèn. Con lợn nái nằm oằn oại trên ổ rơm âm ẩm, vừa rặn đẻ, vừa thở phì phào như cầu cứu người trợ giúp. Lão cắp cái thúng, luống cuống trèo vào chuồng.

Lão lại hì hụi vào chuồng cùng con lợn nái, lúng túng thế nào giẫm ngay bãi phân ướt, trượt chân suýt ngã đập đầu vào cột. Con lợn nái thất thểu nhìn lão, ra chiều hoài nghi lắm. Cả đời lão quen cầm bào, cầm đục chứ đã bao giờ đỡ đẻ cho con lợn, con trâu nào đâu. Lão khom người, khe khẽ vuốt vuốt bụng con lợn nái, giọng vỗ về: “Nào, mày rặn đi. Rặn mạnh vào!”.

Một cái đầu lợn con tròn bằng quả cam nhu nhú lòi ra, lão nín thở đỡ lấy, xoay nhè nhẹ theo nhịp rặn của con lợn nái. Rồi, nó cũng trôi tuột ra ngoài. Sợ chú lợn con đau, lão run run bóc lớp màng nhau thai rồi cắt cuống rốn cho nó. Lợn con kêu ré lên eng éc. Lão thở phào, cùng lúc ấy, một cảm giác gì đó rất thiêng liêng ập đến khiến lòng lão lâng lâng xúc động. Sau vài lần như vậy, lão đã tích lũy được kinh nghiệm. Những con lợn nhỏ nối tiếp nhau lần lượt chào đời, ngơ ngác nhìn nhau, nhìn mẹ nó và nhìn lão nữa. Mười một con tất thảy. Con nào con nấy hồng hào, bụ bẫm như bắp hoa chuối rừng.

Một lớp chiếu mềm trên một tầng đệm êm rồi mà sao bà Hiêng cứ râm ran khắp người như kiến đốt. Cái lưng nằm ở nhà anh trai mà cái vía đã bay luẩn quẩn về tận nhà mình. Lão già khốn kiếp ấy có nấu được cơm mà ăn không? Bầy gà lên chuồng cả chưa? Con trâu có lẽ vẫn đủ cỏ khô nhai vài ngày nữa chứ nhỉ? Đột nhiên, nhớ đến con lợn nái với cái bụng võng xuống quệt cả vào đất, bà hơi hoảng.

Bấm đi bấm lại những đốt ngón tay, bà tự trấn tĩnh mình, chắc đầu tuần tới nó mới đẻ. Tuy vậy, bà dỗ mãi mà đôi mắt chưa chịu đi vào giấc ngủ. Bóng tối tù mù làm sự bất an vón cục thành nỗi lo sợ chặn ngang lồng ngực. Bà vày vò mình trong mớ trí nhớ chợp chờn, hỗn độn. Hình như, gạo trong chum hết rồi. Nghe nói nhà hàng xóm có dịch cúm gà... Bà thở từng hơi thấp thỏm. Chịu đựng nỗi sợ khó hơn, khổ hơn nhiều lần chịu đựng cơn đau. Đêm dài ra theo ý nghĩ rối bời của bà. Lão kia có biết mình ở đây không? Sao lão không đến đón mình?

Cỗ quan tài. Chỉ vì cỗ quan tài thôi mà mọi chuyện ra nông nỗi này! Nhà bà Hiêng có hai cỗ quan tài bằng gỗ mẳn hăn kê gần góc bếp, một chiếc phần bà, một chiếc phần lão Nọi. Người vùng núi này luôn quan niệm rằng, lúc sống có thể ở trong căn nhà tuềnh toàng nhưng khi chết nhất định phải có chiếc quan tài tươm tất để đặt lưng yên giấc ngàn thu. Nếu không có quan tài, sang Mường Trời sẽ phải làm con ma không nhà, lang thang vất vưởng, bị lũ mặt ngựa đầu trâu bắt nạt.

Sáu mươi tuổi đã vội tính chuyện cái chết, trước khi nghỉ nghề mộc, lão Nọi kì công đóng hai cỗ quan tài để dành mới yên tâm cất cái đục, cái bào lên gác bếp. Ban đầu, nhìn chúng, bà hơi chợn rợn. Bà hay tưởng tượng ngày hai vợ chồng mình nằm trong đó, âm u, lạnh lẽo. Bà hỏi chồng vu vơ: “Không biết tôi với ông có được chết cùng ngày không nhỉ?”. Lão Nọi nhìn vợ: “Chết trước hay chết sau thì cũng gặp nhau ở Mường Trời cả. Bà vẫn là vợ của tôi. Tôi vẫn là chồng của bà”. Nghe ông nói vậy, bà ấm lòng khó tả. Dần dà, bà cũng quen, xem chúng như hai cái tủ đựng quần áo.

Cứ mỗi lần dọn nhà, bà Hiêng lại không quên nấu nước tinh dầu vỏ cây lau chùi hai chiếc quan tài cẩn thận, lau đến mức nước sơn sáng bóng như bắt nắng. Bà vuốt khẽ từng góc cạnh vuông vắn, miết chậm từng vân gỗ lượn vòng, xoa nhẹ từng nét hoa văn boọc cấm, boọc ban, con voi, con ngựa đan xen đối xứng vô cùng hài hòa, sống động. Thêu một chiếc lá lên khăn piêu đã khó, khắc một họa tiết lên mặt gỗ lại càng cần tinh tế, tỉ mỉ hơn.

Lão Nọi cầm cái đục, cái bào là mải mê quên ăn, miệt mài quên ngủ như thể hồn vía bị lạc vào rừng hoa mùa xuân chầm chậm nở ra trên từng thớ gỗ, lạc vào cuộc truy tìm con hươu có cặp sừng ướt đẫm ánh trăng. Thế mới hiểu thấu, với hai cỗ quan tài này, lão kỳ công trau chuốt cỡ nào. Có mấy khách đến hỏi mua, lão lắc đầu cương quyết: “Tiền bao nhiêu cho đủ. Đời người chỉ chết có một lần. Sống vất vả rồi, chết phải đàng hoàng một tí”.

Chiều ấy, lão Nọi vắng nhà. Anh cả sai con trai chở sang nhà bà Hiêng, giọng gấp gáp: “Thằng Thởi chết rồi! Anh vay một cỗ quan tài cho nó”. Anh cả nắm tay bà rất chặt. Từ khi bà lững chững tập đi cho đến lúc đầu hai thứ tóc như bây giờ, lời anh cả luôn là mệnh lệnh. Bà hơi trù trừ nhưng chẳng cách nào khác, cũng phải gật đầu đồng ý. Nhìn đám thanh niên bê một chiếc đi rồi, chiếc còn lại nằm trơ trọi nơi góc bếp trống rỗng, bà phấp phỏng linh cảm một điều không lành...

Dậy từ tờ mờ sáng, lão Nọi loay hoay bón quả cho khướu, vãi thóc cho gà, xách nước cho trâu, bằm rau cho lợn. Lão còn hì hụi giã gừng với tỏi lấy nước cốt bôi cổ gà chống dịch. Toàn những việc lặt vặt mọi hôm bà Hiêng xắn tay áo làm nhoằng cái là xong, sao lão bươn bả đầu tắt mặt tối vẫn cứ thấy thiêu thiếu việc gì đó.

Biết là thiếu, cố nghĩ ngược nghĩ xuôi mà không tài nào nhớ ra nổi. Lão vịn chuồng lợn nghỉ ngơi, ngắm nghía không rời mắt bầy lợn con hí hởn tranh nhau bú vú lợn mẹ. Rời mắt một cái là con lợn mẹ vụng về kia lại đè đám con ngay. Giá có bà Hiêng ở đây nữa thì cái cảm giác này dễ chịu, bình an lắm.

Lão ngắm đến lúc bụng sôi réo lên, mặt trời đứng bóng mới giật mình trưa lắm rồi. Lão lên nhà định nấu cơm thì chum hết sạch gạo. Đây là cái việc thiêu thiếu chập chờn trong đầu lão cả sáng nay. Lão vò đầu bứt tai, quên cả đôi tay dính cám lợn chưa kịp rửa. Lão lót dạ bằng ba quả trứng gà luộc rồi vần một bao thóc ra giữa gian nhà. Mệt quá, lão vắt lưng lên bao thóc đánh luôn một giấc...

Lão Nọi xay xong thóc thì trời nhá nhem tối. Lão thay pin chiếc đèn rồi lật đật quần ống thấp ống cao sang nhà anh vợ xin đón bà Hiêng về. Hai ngày vắng bà mà ngỡ như hai tháng đằng đẵng. Ây dà, mình tát vợ là mình sai nặng rồi. Giá mà thời gian quay lại tối hôm trước, mình không làm vậy. Một phần cũng tại bà ấy tự ý cơ, chưa xin phép mình đã vội quyết định.

Bà có biết tôi làm hai cỗ quan tài đó cực nhọc thế nào không. Gỗ mẳn hăn, tôi mua tận trong Mường Mùn, dong bầy trâu đen kéo về, ngâm ao phân đủ bốn năm ròng rã. Màu sơn đỏ, tôi nấu từ mười loại hoa rừng đến sánh đậm như mật ong khoái tháng ba. Từng họa tiết, tôi khảm bằng xương linh miêu, nanh lợn nọc. Bà có biết chúng là tinh túy nghệ thuật một đời làm mộc của tôi không.

Đến nơi, lão tắt đèn pin, lẳng lặng đứng nép bên gốc ban nhìn vào trong. Căn nhà tối om, chỉ cái gian đối diện gian bếp vẫn sáng ánh đèn điện vàng quạch. Lão thấy thấp thoáng cái bóng bà Hiêng đang ngồi lom khom bên bếp, mùi bồ kết rang tỏa ra thơm ngòn ngọt...

Mùi bồ kết là mùi hoài niệm. Lão Nọi ngồi xuống cái tảng đá trơn nhẵn bên gốc ban. Thời trai trẻ, lão đã ngồi đây, chinh phục trái tim người thương bằng những điệu sáo sâu lắng, những câu hát mượt mà: “Con ngựa lạc đường sang nhà người ấy/ Đôi chân ta bên mé cổng chùng chình/ Nàng gác cuộn lanh tròn nơi cửa sổ/ Vườn nắng xuân dệt hoa mận cho mình/ Ta nhớ lắm mái tóc đằm bồ kết/ Làn da thơm như xôi nếp mùa thu/ Giọt nước mắt đọng sóng lòng hồ biếc/ Ta chọc sàn, nàng chưa mở lòng ư?”.

Mặc cho Thởi đã ngủ thăm trước, Nọi vẫn không bỏ cuộc. Nọi tin vào ánh mắt Hiêng lấp lánh nhìn mình ở thửa ruộng lưng đồi. Hết đêm này sang đêm khác, câu hát “Ta chọc sàn, nàng chưa mở lòng ư” cứ thổn thức gieo qua ô cửa, gieo qua những kẽ nứt trên bức vách nhà sàn khiến Hiêng xao lòng. Đêm ngủ thăm ấy, mùi dầu gỗ áo anh quyện cùng mùi bồ kết tóc nàng say mê, đắm đuối...

Vết tát còn đau nhưng lòng đã nguôi cơn giận. Trong chuyện này, bà Hiêng biết mình cũng sai một phần. Đáng nhẽ, lúc ấy, bà phải đi tìm lão Nọi về xin phép một tiếng cho thuận vợ thuận chồng. Nhưng, gán cho bà cái tội trộm nhớ thầm thương ông Thởi thì ấm ức quá. Người ngoài nghe thấy lại mang tiếng ra, lấy đâu mo cau úp mặt.

Bốn mươi chín năm qua, bà chung thủy với lão một lòng như cây mằn hăn mọc thẳng, kệ gió thổi ngang, mặc mưa xiên dọc. Bà thấy nhớ quay quắt cái hơi thở nồng nã mùi thuốc lào, thấy miệng thèm mắng ra rả mỗi lần lão quá chén. Sống với lão là thoải mái nhất. Ở nhà anh cả, bà phải khép nép như đứa con gái mới về nhà chồng, ăn chẳng dám no, ho không phát ra thành tiếng. Anh cả nghiêm khắc từ xưa đến giờ. Chị dâu thì kiệm lời, mặt chẳng biết cười. Mỗi lần xúc gạo nấu cơm, chị dâu cọ ống bơ vào đáy chum loạt soạt. Tiếng loạt soạt như muốn nói: Hết gạo! Hết gạo! Hết gạo!

Đã bao giờ, bà Hiêng yêu ông Thởi chưa? Chưa bao giờ! Sau lần ngủ thăm với Thởi, những rung động mong manh thoáng qua trong lòng thiếu nữ xuân thì đã bị mùi máu tanh nặng nề cưỡng bức. Lão Nọi là mối tình đầu tiên và duy nhất của bà, bà thề có trời biết đất biết. Còn ông Thởi là bạn chí cốt của anh cả bà.

Mãi chiều qua, bà mới được anh cả kể cho nghe câu chuyện này. Lần ấy, cách nay nửa đời người, khi Hiêng đi lấy chồng rồi, anh cả rủ Thởi vào rừng săn gấu, phạm phải địa bàn của bọn sơn tặc. Chúng vác súng kíp, ra sức đuổi giết họ. Thởi quay người đỡ cho anh cả một viên đạn. Viên đạn trúng giữa đầu gối trái của Thởi, bị nhiễm trùng, hoại tử, phải cắt bỏ cả cái chân. Mất một chân, Thởi chẳng dám lấy vợ, sống cô độc trong ngôi nhà nhỏ bên bờ suối.

Bao nhiêu năm qua, chẳng kể mưa hay nắng, đều đặn hằng tuần, anh cả luôn đùm túm gạo và muối mang tiếp tế cho ông Thởi. Sáng kia, anh cả xách miếng thịt lợn rừng ghé nhà ông Thởi thì ông ấy đã cứng đơ như khúc gỗ trên manh chiếu nứa rách tơi tả. Anh cả ôm lấy bạn, thầm nghĩ, đời mày khổ quá rồi, giờ sang Mường Trời bị đầu trâu mặt ngựa bắt nạt nữa thì khổ để đâu cho hết. Và, anh cả nghĩ ngay đến hai chiếc quan tài nhà em gái...

Lão Nọi rút một que rào, thầm nghĩ, phải xin bà Hiêng ngủ thăm một lần nữa xem như giảng hòa và yêu lại từ đầu. Ai bảo người già là không còn yêu nhau. Còn ghen là còn yêu, còn yêu là còn nhớ, còn nhớ là còn thương, còn thương là còn quan tâm, còn quan tâm là còn đi tìm.

Lão rón rén bước vào nhà anh vợ, đến chỗ gầm bếp, chọc lên sàn lục cục như con gà mổ thóc. Bỗng, có tiếng chị dâu hô hoán: “Có trộm! Có trộm gà dưới gầm sàn!”. Cả nhà vùng dậy. Thằng con trai anh cả chạy hùng hục xuống đầu tiên. Vợ nó cũng lịch bịch nối theo sau. Họ vừa xuống đến chỗ chuồng gà thì lão Nọi bật đèn pin tự soi lên mặt mình: “Tôi, Nọi đây! Tôi đến đón bà Hiêng...”.

Anh cả cắt ngang: “Không đón đưa gì hết! Mày cút khỏi nhà tao ngay”. Lão Nọi lủi thủi ra về. Lão Nọi vừa đi một lát thì gió nổi lên vần vũ, trời đổ mưa xối xả. Mưa sục sạo trên mái nhà như kẻ đói ăn cố đào xới đất rừng tìm củ mài, củ sắn. Tảng sáng, bà Hiêng vẫn nghĩ về lão Nọi. Không biết cái lão gàn dở ấy đã về đến nhà chưa hay lại dính mưa ốm ra thì khổ.

Trưa, bà Hiêng len lén nhét lại mấy bộ quần áo vào bao tải, định lựa thời điểm anh cả nguôi nguôi xin phép về nhà. Đúng lúc ấy, đứa con gái út của bà sang tìm mẹ, hớt ha hớt hải: “Mẹ ơi, đêm qua bố đi đường mưa bị ngã gãy tay, mẹ về ngay ạ!”. Quên luôn cả bao tải quần áo, bà Hiêng hấp tấp trèo lên xe máy đứa con gái út, nước mắt giọt tròn giọt méo: “Thế là mẹ hại bố mày rồi, con ơi!”.

Về đến nhà, thấy bàn tay phải của ông được bó bột trắng tinh, bà phát hoảng: “Trời ơi! Đi đứng kiểu gì mà ra nông nỗi này. Có đau lắm không?”. Lão Nọi thủng thẳng: “Bà bình tĩnh! Thấm vào đâu với cái má của bà. Bàn tay này tùy tiện đánh người nên bị trời phạt đấy!”. Bà lườm lão rão cả giác mạc: “Muốn ăn gì để tôi đi nấu?”. “Cái gì bà nấu tôi cũng muốn ăn!”.

Rồi, bà nhìn quanh nhà. Chăn chiếu chỏng chơ. Lúa ngô rơi vãi. Xoong nồi ngổn ngang. Bếp tàn tro lạnh. Mọi thứ bừa bộn quá! Bà nhìn gian buồng lão Nọi: “Cái giường đi đâu rồi?”. “Tôi bán lấy tiền bó bột. Chứ còn mỗi cỗ quan tài phần bà, chẳng nhẽ bán nốt?”. “Bán giường rồi lấy gì mà nằm?”. “Thì nằm chung với bà, có bị dính vào nhau đâu mà sợ”.

Lâu lắm mới nằm chung với lão Nọi, bà ngỡ mình hóa thiếu nữ xuân thì, sống lại cảm xúc bồi hồi, ngượng ngập đêm ngủ thăm năm ấy. Khung cảnh trùng hợp như xưa hay hồi ức thanh xuân khiến bà thấy không gian chợt nhuốm màu hoài niệm. Cũng ánh trăng tràn loang bên cửa sổ. Cũng lửa hồng thức đợi suốt canh thâu. Cũng cơn gió sợ cánh ban nát nhàu. Và, hơi người sưởi ấm lòng chăn chiếu.

Lão Nọi bỗng ngâm nga những giai điệu ký ức bâng khuâng: “Ta nhớ lắm mái tóc đằm bồ kết/ Làn da thơm như xôi nếp mùa thu/ Giọt nước mắt đọng sóng lòng hồ biếc/ Ta sai rồi, nàng vẫn giận ta ư?”. Chừng nào tay ông hết đau thì tôi mới hết giận ông. Và, trong nếp áo lão Nọi, mùi dầu gỗ dậy lên thoảng dịu, mơ hồ như có, như không...

Mặt trời qua con sào, bà Hiêng tỉnh giấc trong mùi cháo thịt băm thơm nồng mắc khén. Bà đã ngủ bù cho cả hai đêm vật vờ thắc thỏm vừa qua. Thức dậy trong ngôi nhà mình sao mà khoan khoái, nhẹ lòng đến thế. Tiếng bầy nộc thua nhặt tấm chiếp chiu. Tiếng hai con chó cún vờn nhau nhéo nhẳng. Tiếng con gà mái mơ cục tác khoe quả trứng so. Tiếng bầy lợn hồng ủn ỉn thi nhau bú sữa.

Lẫn vào đó là tiếng gỗ trầm trầm, thứ âm thanh thân thương đến nỗi mở ra trong tâm trí bà cả dáng đứng, điệu ngồi và cái nhíu mày của lão Nọi. Bà xuống gầm sàn. Con khướu nhí nhảnh: “Hiêng hết giận! Hiêng hết giận! Hiêng hết giận!”. Lão Nọi đang nghí ngoáy tháo chiếc giường. Từng động tác vẫn thuần thục và dứt khoát. Mấy cái đục, cái bào, cái búa nằm lộn nhộn quanh chân lão.

Bà ngớ người: “Tay ông?”. Lão cười tủm tỉm, mặt còn lem nhem vệt nhọ nồi: “Tôi không giả vờ thế thì bà có thương tôi đâu. Bà chẳng bảo tay tôi hết đau, bà mới hết giận đấy thôi”. Bà muốn chạy lại mà đấm thùm thụp mấy phát vào lưng lão cho bõ ghét: “Cái giường đang lành lặn, sao lại phá nó đi?”. “Bà cho tôi ngủ chung giường bà rồi thì ai cần đến cái giường này nữa?”.

Lão Nọi vớ lấy cái bào, trượt từng đường trơn tru lên thớ gỗ. Lưỡi bào đi đến đâu, vỏ bào bung ra từng mảnh cong cong như cánh hoa hồng đến đó. “Ông định làm gì đấy?”. “Làm quan tài cho tôi chứ còn làm gì nữa? Bà đành lòng nhìn tôi sang Mường Trời làm con ma lang thang à?”.

Truyện ngắn của Phan Đức Lộc

Các tin khác

Cây đàn dương cầm

Cây đàn dương cầm

Quyên lặng người trước tấm gương lớn sau khi nhường chiếc quạt tích điện cho em cô. Trong gương là một người phụ nữ 34 tuổi nhưng mang gương mặt đàn bà nhàu nhĩ tứ tuần. Hai hố mắt quầng thâm. Tóc tai xơ xác.

Vụ cướp xui xẻo

Vụ cướp xui xẻo

Cánh cửa lại mở, bà cụ xuất hiện, một tay vừa ôm chó vừa cầm chiếc túi Kun nhỏ, tay kia xách một chiếc túi nhựa màu đen. Tùng Hồng Nguyên đã rất quen thuộc với loại túi nhựa này, nó được các ngân hàng tặng khách hàng để đựng tiền mặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng rút số lượng lớn tiền mặt.

Chỉ vì một phút ngã lòng

Chỉ vì một phút ngã lòng

Được sự khích lệ và cổ vũ của vợ, Trương Lỗi đứng ra lập một công ty trang trí. Một năm sau, công ty làm ăn phát đạt, nhà có tiền, hai vợ chồng mua một căn hộ to đẹp. Nhưng khi cuộc sống của gia đình ngày một tốt hơn thì Trương Lỗi bắt đầu thay đổi, anh ta không chăm chỉ vào công việc làm ăn mà lại hay cùng bè bạn tụ tập rượu chè, cờ bạc

Nghệ sĩ ngoại giao

Nghệ sĩ ngoại giao

Khi kết bài, cậu phải làm sao cho nó có vị "vừa ngọt vừa đắng". Đừng có khen không, mà cũng đừng có chê hết. Phải giữ cái thế thăng bằng thì mới tồn tại được.

Ngọn đèn thức gọi dòng sông

Ngọn đèn thức gọi dòng sông

Ven bờ sông Hoài Nhân có loài hoa lạ lùng: hoa Minh Đăng, thân cứng chấp gió mạnh, lá đỏ thắm, mỗi cây đến cả bốn mùa cho chín bông hoa vàng rực có hình từa tựa lồng đèn. Hoa có mùi thơm lạ lắm, như mùi trầm thơm trên bàn thờ cứ gợi nhắc xa xăm, cứ hướng ta lên bầu trời vời vợi, ngửi lâu là chảy lệ nhớ thương...

Cô gái yêu phim Pháp

Cô gái yêu phim Pháp

Sheila lớn lên ở Sheffield, một thị trấn phía Bắc nước Anh từng nổi tiếng với sự tinh xảo của nghề dao kéo và lòng dũng cảm của các phi công không quân. Đến năm mười bảy tuổi, vinh quang của thị trấn đã phai tàn, và quý bà thời Victoria tráng lệ đã trở thành một người buồn tẻ thất vọng.

Nhầm ngăn kéo

Nhầm ngăn kéo

Bá tước DuPont không giấu nổi vẻ đắc ý. Vừa sải bước về phía phòng ăn, ông vừa lướt nhanh tấm da cừu cũ kỹ mới tìm thấy trong kho lưu trữ. Đây chính là bản đồ dẫn lối đến kho báu thất lạc của dòng họ DuPont danh giá.

Thăm người nhà

Thăm người nhà

Giữa cái nắng hanh hao của buổi chiều tại Trại cải tạo Đông Sơn, Trần Lực đang vùi đầu vào xấp hồ sơ phạm nhân dày cộm. Tiếng lật giấy sột soạt bỗng bị ngắt quãng bởi một giọng nói run rẩy, đầy vẻ khẩn cầu từ phía cổng:

Hương hoa sở

Hương hoa sở

Chiều tháng Mười. Những sợi nắng hanh hao mùa đông trốn vào bụng núi, nhường chỗ cho vô vàn bụi sương tím ảo huyền, từ dưới lòng thung dâng lên khắp bản Nà Khuôn. Gió đầu đông khô lạnh trên núi tràn xuống nương cao, ruộng thấp, ríu ran, đu vít vào bạt ngàn hoa sở trắng tinh khôi nhè nhẹ tỏa hương, phả hơi buốt giá vào từng nếp nhà sàn, dắt bóng tối tràn về…

Người lính trong bức họa

Người lính trong bức họa

Một sáng hè vùng cao. Sương sớm tràn vào thung lũng, sà xuống gác chuông nhà thờ, mái vòm những ngôi nhà, biệt thự cổ nằm rải rác trên sườn núi. Mặt trời ló dạng. Sắc vàng ấm áp lan tỏa những khúc quanh con đường mòn ngoằn ngoèo trên triền đá. Âm thanh bừng thức phố núi. Hằng, nhân viên trực phòng tranh đón hai khách ngoại quốc, một nam một nữ bước vào.

Hành trình kinh hiểm

Hành trình kinh hiểm

Hai tên cướp vừa thu tiền vừa hỏi tên họ và đơn vị công tác của từng người đưa tiền sau đó ghi vào quyển sổ và nói: "Xin đắc tội với bà con cô bác, vì gần đây anh em chúng tôi gặp khó khăn nên mới phải mượn tạm số tiền này của bà con cô bác, đến ngày nào đó nhất định sẽ trả lại".

Bệnh cũ tái phát

Bệnh cũ tái phát

Chỉ đến lúc này ông Lý mới buông lão Trương ra. Nhưng ông Lý còn cố nói với lão Trương: “Hôm nay tôi để ông thắng vài ván, ngày mai tôi sẽ để ông không còn mảnh giáp nào”

Dưới ánh mặt trời

Dưới ánh mặt trời

Gần 20 năm sống ở cái đất "hoa cho người giàu, lệ cho người nghèo" này, gã đã quá quen với việc một mình trong mọi thứ. Sinh tồn bản thân đã không dễ gì, dính thêm một sự sống khác thì khác gì đeo tròng vào cổ

Hai lần lên tỉnh

Hai lần lên tỉnh

Thấy ông già giàu có, mặt người bán hàng lập tức sáng lên và nhanh chóng viết hóa đơn. Sau khi trả tiền, lão Vương nhét chiếc máy ảnh kỹ thuật số vào chiếc ba lô bẩn thỉu của mình, bỏ 10 nhân dân tệ tiền thừa vào túi rồi ngẩng cao đầu bước ra khỏi trung tâm thương mại.

Tình yêu dị dạng

Tình yêu dị dạng

Khi đến lượt mình, Lâm Khê lén dúi vào tay anh mẩu giấy ghi số điện thoại. Thẩm Ngôn khựng lại, ngẩn người nhìn cô rồi lẳng lặng nhận lấy. Ngay tối hôm đó, cô nhận được cuộc gọi từ anh.

Biển rợp sóng

Biển rợp sóng

Tiếng gió biển thổi đem tiếng vi vu của vạt phi lao tới như một bản nhạc vừa buồn vừa rực rỡ, ngút ngàn cô đơn. Biển cũng chỉ có vậy thôi: đơn giản và nhạt nhòa. Nó giống như chàng trai lúng túng trước vạt tóc bay qua bờ vai phủ lên khuôn mặt đẫm nước mắt của cô gái mà chỉ biết thở dài thừa thãi.

“Trợ lý thông minh”

“Trợ lý thông minh”

Lý Minh hào hứng nghiên cứu cả buổi chiều, cài đặt hết các lệnh cần thiết, thậm chí còn lén cài thêm một lệnh “lời chào tùy chỉnh”. Anh ta tự tin nói: “Có nó, hiệu suất làm việc của văn phòng chắc chắn sẽ tăng gấp đôi”.

Còn lại cái gọng không

Còn lại cái gọng không

Vâng lời bác sĩ, tôi sắm ngay một chiếc kính. Nhưng khổ nỗi, cứ hễ đeo vào là đầu óc lại quay cuồng, buồn nôn không chịu nổi. Thậm chí có lần, nói ra thì hơi ngại, tôi đã nôn thốc nôn tháo đến mức mật xanh mật vàng đều ra hết.

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Tiếng khèn giữ mùa phượng cuối

Đời này, kiếp này A Sính sẽ gắn bó với núi rừng. Nó thương những em nhỏ mỗi lần đi học phải dậy từ sớm, rồi đu qua sợi dây cáp sang bên kia suối, đi hết một quả đồi nữa mới đến điểm trường. Biết được nỗi nhọc nhằn đi tìm con chữ của dân bản, cấp trên đã cho xây dựng một lớp học ở lưng chừng đồi.

Người đàn ông bên bến sông trăng

Người đàn ông bên bến sông trăng

Ngoài sân, mấy tàu cau khô cọ vào nhau xào xạc. Thời gian của đêm trôi qua chậm và buồn quá. Lâu nay, khi có rượu vào là Lâm lại nhớ về quãng đời cũ của mình.