Cái giếng – hồn xưa đất nước

Theo nhiều tài liệu khảo cổ học thì cái giếng có thể đã xuất hiện ở nước ta khoảng năm sáu nghìn năm gắn liền với sự hình thành làng cổ. Ở đâu có làng thì thường ở đó có giếng. Điều này cho thấy cái giếng như một hồn xưa của làng của nước. 

Trong văn chương cũng cho thấy hình tượng này đã có từ rất lâu trong lịch sử, như giếng nước thành Cổ Loa trong truyền thuyết “An Dương Vương” và sau là cái giếng mà cô Tấm nuôi con cá Bống trong truyện cổ tích “Tấm Cám”.

Không chỉ có trong văn hoá nước ta mà hầu như ở bất kỳ một nền văn hoá nào cũng đều có hình tượng “giếng” và nó được coi là một ký hiệu văn hoá chứa nhiều mã cần giải đáp. Người ta coi “giếng” là một biểu trưng văn hoá bình đẳng với các biểu trưng cơ bản khác.

Thực ra trong văn hoá Việt Nam đã nói lên điều này, khi ai cũng thừa nhận sân đình, bến nước, cây đa là những biểu trưng cơ bản của văn hoá làng Việt, thì đã thừa nhận “giếng” cũng là một biểu trưng như vậy. Vì “bến nước” trong bối cảnh văn hoá xưa không chỉ là “bến” có địa điểm gần làng, trên bờ sông, nơi thuyền bè cập và xuất bến để chuyên chở người và hàng hoá, mà còn là “sân giếng”, nơi để múc và gánh nước. Đây cũng là nơi mỗi buổi chiều dân làng tập trung sinh hoạt như giặt giũ, tắm rửa… cũng là không gian gặp gỡ hẹn hò của con trẻ, của gái trai…

Quen thuộc một nét giếng quê!
Quen thuộc một nét giếng quê!

Lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tính cách sẽ sản sinh ra những ký hiệu tương ứng, đến lượt ký hiệu lại là một mã biểu trưng của văn hoá. Nhìn một cách khái quát nhất thì “cái giếng” của văn hoá nhân loại có chung những nét nghĩa: tượng trưng cho sự giàu có, dồi dào, sung mãn, đầy đủ (dựa vào đặc điểm múc nước mãi mà không cạn); tượng trưng cho sự giao hoà nam nữ (giếng ăn sâu xuống đất, lại có cả không gian trên mặt đất tức vừa âm vừa có dương.

Tiếng Do Thái cổ, chữ “giếng” còn có nghĩa là phụ nữ, người vợ); tượng trưng cho sự bí mật (giếng sâu thăm thẳm); tượng trưng cho sự hiểu biết (giếng thường sâu, chứa nhiều nước)… Gần đây triết học tâm linh phát triển người ta lại nhìn hình tượng “giếng” có những ký hiệu nghĩa còn ly kỳ và thú vị hơn như tượng trưng cho sự linh thiêng (nối liền ba vũ trụ trời, đất, địa phủ); là phép mầu nhiệm (nước mang đến sự sống, là sự dung hợp ba yếu tố cơ bản là nước, đất, không khí); là biểu trưng cho mạch đất tốt, yên ổn, phát triển…

Ở Việt Nam cũng có sự thật là nơi nào được coi là “địa linh” nơi có “huyệt đạo” thiêng thì giếng ở đó không bao giờ cạn nước, dù có ở trên núi cao, mà đỉnh núi Nưa nơi thờ Bà Triệu (Triệu Xuân - Thanh Hoá) là tiêu biểu.

Soi vào văn hoá Việt, chịu sự khúc xạ tâm thức cộng đồng của văn minh lúa nước rất cần nước để sinh hoạt và trồng cấy, biểu trưng “giếng” có nhiều nét khác biệt.

Để so sánh với thân phận người phụ nữ xưa "Thân em như giếng giữa đàng/ Kẻ khôn rửa mặt, người phàm rửa chân". Là nơi để neo gửi lời thề thiêng liêng, là vật chứng giám "Nguyền cùng trước giếng sau chùa/ Trăm năm giữ vẹn chát chua chẳng nề". Là biểu trưng của lòng chung thủy "Sông kia có cạn còn ao/ Cũng nguyền vét giếng mà trao ân tình".

Trong cộng đồng một làng thì cái giếng nước thường ở vị trí trung tâm của không gian nên trở thành tâm điểm gặp gỡ, người ta đi đâu cũng thường qua giếng, ở xa về, đi làm hoặc ở đồng về cũng qua giếng để rửa mặt, rửa tay cho mát, có khi là uống nước nếu là giếng mát, giếng sạch hoặc để “soi gương”... Chiều đến càng đông người. Tối đến cũng đông người… Dần dần “giếng” trở thành tiêu chí thẩm mỹ "Thứ nhất gần mẹ gần cha/ Thứ nhì gần giếng, thứ ba gần đình". Như một lẽ tự nhiên “giếng” trở thành biểu trưng hạnh phúc của người con gái: "Có chồng gần mẹ gần cha/ Như cây gần giếng sau mà dưỡng thân".

Trong truyền thuyết “An Dương Vương” thì “giếng” là nơi thể hiện tình yêu đích thực. Trọng Thuỷ đáng giận vì phản bội nước Âu Lạc, đáng trách vì phản bội Mỵ Châu nhưng cũng đáng thương khi ân hận mà nhảy xuống giếng tự tử. Chứng tỏ hắn yêu Mỵ Châu thật lòng. Mỵ Châu cũng yêu chồng nên ngọc trai ở biển Đông đem rửa nước giếng Cổ Loa thì càng sáng. Trong cổ tích “Tấm Cám” thì “giếng” là nơi nuôi dưỡng hy vọng. Cô Tấm nuôi cá Bống là nuôi hy vọng thay đổi cuộc đời!

Nhưng giếng còn là ẩn dụ cho những tâm hồn nông nổi, thiếu sâu sắc, hời hợt "Em tưởng nước giếng sâu/ Em nối sợi dây gầu dài/ Ai ngờ giếng cạn/ Em tiếc hoài sợi dây". “Giếng” ở đây là “anh”, “em” tưởng “anh” sâu sắc, tin cậy nên “em” mới trao sợi dây hy vọng, ai ngờ “giếng cạn”, “em” thất vọng vô chừng. Tình yêu mất không tiếc vì có thể thay bằng tình yêu khác, “em” tiếc là tiếc hy vọng của “em”, niềm tin của “em” đã trao nhầm chỗ. Mà ngày xưa, thời phong kiến, chỉ cần trao nhầm chỗ một hai lần như vậy là có thể thiệt cả một đời con gái, vì “gái ba mươi tuổi đã toan về già”!

Trong thành ngữ thì “giếng” lại biểu trưng cho không gian chật hẹp, tối tăm sinh ra sự thiển cận "Ếch ngồi đáy giếng" vì “ếch” nhìn từ “đáy giếng” sẽ chỉ thấy trời  bằng cái “miệng giếng” mà thôi! Câu này còn mang ý nghĩa phổ quát muốn con người thông minh thì phải thay đổi môi trường mang tính thông minh!

Trong văn học viết thì ai cũng thuộc bài thơ “Giếng thơi” của thi hào Hồ Xuân Hương. “Giếng” trong bài thơ biểu trưng cho cái đẹp, cái trong sáng "Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết". Đã là cái đẹp thì phải biết nâng niu, trân trọng, chẳng kẻ nào thô tục dám làm những điều thiếu trong sáng "Ðố ai dám thả nạ dòng dòng". Trong văn học hiện đại thì người viết nhiều nhất về cái giếng là Hoàng Cầm. Cũng rất đúng với phong cách nhà thơ của làng quê hội hè xứ Kinh Bắc, “giếng” trong thơ ông thật có hồn, với "Cổ Loa rúc chòi canh/ Giếng ngọc ễnh ương quát đêm tiền sử" (Gió lông ngỗng) rồi "Tung toé dội gầu trăng nước giếng/ Mát lùa kẽ tóc…". (Tắm đêm)…

Ở thể tiểu thuyết gần đây có quyển rất đáng đọc với tên “Đáy giếng” của nhà văn Phạm Thị Bích Thủy. Cuốn này tái hiện xã hội Việt Nam thời bao cấp thông qua hình ảnh một doanh nghiệp Nhà nước với những nhân vật cũng rất “bao cấp” tức là chậm chạp, trì trệ, không năng động, thiếu sáng tạo… cùng những mánh khoé tiểu nông vặt. Chắc khi đặt tên tiểu thuyết, nhà văn đã liên tưởng tới thành ngữ "Ếch ngồi đáy giếng" như đã phân tích ở trên.

Theo sự phát triển công nghiệp mà hình tượng “giếng” cứ nhạt dần trong tâm thức xã hội, văn chương lại càng ít tái hiện. Nhưng đứng trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng công nghiệp mới người ta lại thấy tiếc một dấu xưa mang hồn đất nước nên có nơi bỏ công bỏ của nạo vét khôi phục lại vẻ “giếng xưa”. Đó là cách làm đúng. Nhưng lại có nơi làm cả một đài phun nước ở giữa giếng cho “hoành tráng” thì lại làm mất đi vẻ xưa cổ truyền. Cũng thật tiếc, vì lại không thấy “hồn xưa”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.