Bửu Trác Phó vương chống Pháp

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) cho đến năm 1945, nhiều vua, quan triều Nguyễn đã liên tục chống Pháp, thể hiện lòng yêu nước trung trinh, như: Trương Định, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết v.v...

Nổi bật nhất là ba vị vua, như: Hàm Nghi ra hịch Cần Vương đánh Pháp, bị quân Pháp bắt đưa đi an trí ở Alger (thủ đô Algérie); rồi vua Thành Thái, Duy Tân do chống Pháp quyết liệt, hai cha con bị Pháp đày ở đảo Réunion. Sơ lược như thế để biết tinh thần chống Pháp của vua, quan triều Nguyễn không bao giờ ngừng.

Trong những ông quan triều Nguyễn yêu nước, chống Pháp ấy, tôi muốn kể về cụ Bửu Trác. Theo anh Vĩnh Mẫn, nguyên Trưởng Ban Tuyên huấn Đoàn 125 (Đoàn tàu không số) kể, thì bố anh, cụ Bửu Trác là cháu nội vua Hiệp Hòa. Thời vua Khải Định (1885-1925), cụ Bửu Trác được vua rất tin dùng, thăng tiến liên tục.

Cụ là quan ngự tiền hộ giá, sau được thăng đến chức thống chế nhất phẩm triều đình, nhân vật thứ hai sau vua. Ở Huế, người hoàng tộc Nguyễn gọi cụ là “Phó vương”, còn dân Huế thì gọi là “Ông Nhất”.

Ông Phạm Khắc Hòe, Đổng lý văn phòng thời Bảo Đại đi theo cách mạng, năm 1993, gặp Vĩnh Mẫn ở Hà Nội, khi nghe giới thiệu “Vĩnh Mẫn là con cụ Bửu Trác”, đã nhớ ra và thốt lên: “Con ông Nhất ở Đập Đá phải không?”. Bửu Trác là con trưởng của ông Ưng Bác với kế thiếp là bà Huỳnh Thị Lê. Cụ sinh năm 1887, mất năm 1940. Cụ Bửu Trác thông thạo chữ Hán và tiếng Pháp, rất thông minh và cương trực.

Cụ Bửu Trác.
Cụ Bửu Trác.

Là Phó vương, quyền lực ngất trời, nhưng do tính cương trực, cụ Bửu Trác rất ghét thực dân Pháp. Triều Nguyễn thời ấy, trong hoàng cung, đa số quan lại đều ghét Pháp vì chúng lấn át quyền lực triều đình. Triều đình Huế lúc ấy chỉ là bù nhìn, nên ai cũng đau lòng và căm tức. Quan Pháp tự do đi vào cửa Ngọ Môn, cửa chỉ dành cho vua đi. Nhưng không ai dám phản ứng ra mặt. Cụ Bửu Trác thì khác.

Cụ không chịu luồn cúi và chống Pháp theo cách riêng của mình. Trong hồi ký của “vua” lưu vong Bảo Đại viết bằng tiếng Pháp tên là Le Dragon D Annam (Con rồng Việt Nam), bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Phước Tộc 1990, Bảo Đại đã viết về hoạt động chống Pháp, lật vua ở trong nước thời gian đó như sau: “Chưa nói đến Hoàng thân Cường Để đang hoạt động ở Nhật và ở Đài Loan. Đã có hai người anh họ là Bửu Trác, trước từng là tùy viên của cha tôi, nhất là Bửu Đình luôn tìm cách để hạ bệ tôi. Trong thời gian tôi du học ở Pháp, ông ta đã đăng những bài báo nảy lửa...”.

Theo sách Những bí mật trên Côn Đảo của nhà văn Pháp Demario Giang Celdo viết từ những năm 1935-1936: “...Trác đã lôi kéo sự hăng say của người bà con trẻ Bửu Đình về phái mình. Chính Trác đã “đạo diễn” cho những bài báo độc địa và chuẩn bị cho những cuộc diễn thuyết xúi giục nổi loạn ở Kim Long, ở Huế, ở Quảng Trị. Qua các cuộc diễn thuyết quan lại bị lăng nhục và các dự án của Pháp đã bị phê phán một cách dữ dội”.

Xin mở ngoặc về Bửu Đình (1989-1931). Cụ Bửu Trác gọi bằng anh theo thứ tự hoàng tộc, sinh ở Kim Long. Là nhà văn, nhà báo, cộng tác với các báo Nam Kì kinh tế, Phụ nữ tân văn... Ông nhiều lần diễn thuyết, lên án nền quân chủ chuyên chế, đòi xóa bỏ chế độ Nam triều, lập chế độ cộng hòa theo chủ trương của Phan Châu Trinh.

Năm 1927, ông về Huế dự lễ chúc thọ Phan Bội Châu. Ở đây ông lại tiếp tục diễn thuyết chống Pháp, chống vua. Hội đồng Phủ Tôn Nhơn đã kết ông tội "khi quân", xóa tên, lãnh án tù 9 năm, giam tại nhà tù Lao Bảo. Trong tù, ông lại tiếp tục chống triều đình, nên bị lưu đày ra Côn Đảo.

Trên đảo, ông viết sách, báo gửi về đất liền. Những cuốn tiểu thuyết như Cậu Tám lọ, Mảnh trăng thu và tập thơ Giọt lệ tri âm được xuất bản. Tháng 11 năm 1930, ông vượt ngục nhưng không thành. Cuối năm 1931, ông lại tổ chức vượt ngục nhưng bị mất tích trên biển, khi mới 33 tuổi.

Không chỉ qua Bửu Đình, cụ Bửu Trác còn cho Thân Trọng Dược, một vị quan vào Sài Gòn cổ động báo chí chống Pháp và đả kích triều đình Huế.

Có bốn câu ca dao tương truyền là của “Ông Nhất” Bửu Trác: “Ai về địa phủ hỏi Gia Long/ Khải Định thằng này phải cháu ông/ Một mai Khải Định về chín suối/ Để thằng con nít giữ non sông!” (thằng con nít ở đây ám chỉ Bảo Đại, vua đang du học ở Pháp). Cũng có dị bản: “Ai về địa phủ hỏi Gia Long/ Khải Định thằng này phải cháu ông/ Chễm chệ ngai vàng tô tượng gỗ/ Vua thì còn đó, nước thì không”...

Trong khuôn viên gia đình, cụ Bửu Trác cho một người đàn ông quê Nghệ An góc vườn làm nhà để ở. Theo Vĩnh Mẫn, người này hay lên nhà cụ Phan. Có thể đã chuyển những thông tin hoặc lời khuyên từ cụ Phan cho cụ Bửu Trác và ngược lại.

Theo Nguyễn Đắc Xuân, chính từ nguồn thông tin do Bửu Trác cung cấp, Báo La Cloche Félée (Tiếng chuông rè) của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường đã viết bài đả kích chế độ quân chủ. Chưa bao giờ vai trò của nhà vua lại bị báo chí công kích làm mất mặt đến như thế...

Vì những hoạt động đó, sau khi vua Khải Định băng hà, cụ Bửu Trác đã bị Phủ Tôn Nhơn kết án, tước chức, tước tôn tịch, đày đi Lao Bảo. 6 tháng sau, năm Bảo Đại thứ nhất (1926) ông được ân xá. Triều Huế chuẩn khôi phục nguyên tước Hương Công, mời trở lại làm, nhưng ông từ chối!

Thời kỳ ra tù, ông hoạt động Phật giáo, quan hệ với các ông Lê Đình Thám, Đặng Ngọc Sánh, cụ Thái Văn Toản - hòa thượng trụ trì chùa Quốc Ân... Ông  làm hội phó Tổ chức An Nam Phật học hội. Nhưng mật thám Pháp theo dõi ông rất gắt gao. Chánh mật thám Trung Kỳ Srogny mỗi đầu tuần lại về nhà cụ Bửu Trác một lần. Tên này thường bách bộ ngang qua Đập Đá xem những người ngồi câu cá (như đây là điểm tập trung báo cáo tin tức) trước khi vào nói chuyện với cụ Bửu Trác.

Vì ghét bọn mật thám Pháp, cụ đã treo biển bằng chữ Pháp ở ngoài cổng: “Coi chừng! Chó giữ nhà!” (Actention! Le chiên garde a la maisơn!). Đó là cách phản ứng của cụ trước sự đeo bám của bọn Pháp!

Phó vương Bửu Trác không chỉ chống Pháp, mà quan trọng hơn, ông còn luôn dạy dỗ những đứa con của mình “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, giáo dục tư tưởng yêu nước, chống Pháp. Cụ có 6 người con thì sau này lớn lên, 3 người đã đi theo Việt Minh là Vĩnh Tập, Vĩnh Mẫn và Băng Tâm. Đó là sự hy hữu của một gia đình hoàng tộc trực hệ (miên hương ưng bửu vĩnh).

Vĩnh Tập là con thứ 2 của cụ Bửu Trác. Anh sinh ngày 6-3-1927. Anh thi đậu Diplôme và tham gia cách mạng rất sớm. Đầu tiên, anh gia nhập Hội Hướng đạo sinh Trung Kỳ do thầy Tạ Quang Bửu làm huynh trưởng. Đi theo Việt Minh, Vĩnh Tập đã trở thành chính trị viên Trung đội 9, Tiểu đoàn Tiếp phòng quân Thuận Hóa, Trung đoàn Trần Cao Vân do ông Hà Văn Lâu chỉ huy.

Trong “tuần lễ vàng” năm 1945, Vĩnh Tập đã mang di vật quý giá của cha mình là chiếc mũ đại triều (đính nhiều vàng bạc) hiến cho cách mạng. Năm 1946, Tiểu đoàn Tiếp phòng quân Thuận Hóa đã mở trận đánh “cảm tử” vào nhà hàng Sáp-phăng-giông (đối diện với Đài Truyền hình VTV8 bây giờ) để tiêu diệt bọn Pháp đóng quân ở đó. Trận tập kích không thành.

Toàn đơn vị rút ra căn cứ, còn Trung đội 9 cảm tử của Vĩnh Tập bị mắc kẹt lại. Địch bắn như trút, kêu gọi đầu hàng, các anh vẫn chống trả quyết liệt. Giặc phun xăng đốt ngôi nhà. Các chiến sĩ đã xuống tầng trệt, dùng bộc phá nổ tung, biến ngôi nhà thành mộ chôn chung cả trung đội!

Ngày 4-6-1992, trong lúc đào móng cải tạo công trình nhà của Ủy ban Khoa học kỹ thuật tỉnh tại 18-Hà Nội-Huế, người ta phát hiện 17 bộ hài cốt, trong đó một bộ hài cốt có sợi dây chuyền nhỏ đeo một miếng nhôm. Rửa sạch miếng nhôm, hiện lên dòng chữ khắc: “Phùng Huấn - VQĐ - Thuận Hóa”. “VQĐ” là Vệ quốc đoàn. Như vậy sau 46 năm, thi hài liệt sĩ Vĩnh Tập mới được tìm thấy. Chính trị viên Vĩnh Tập đã hy sinh như một anh hùng!

Người con gái ông Bửu Trác là Công Tằng Tôn Nữ Băng Tâm, cũng theo anh trai Vĩnh Tập đi theo Việt Minh đánh Pháp. Chị hoạt động theo đường dây của ông Phạm Sang, Thành ủy viên Huế. 

Trên đường đi công tác lên chiến khu thì bị đích phục kích. Chị hy sinh năm 1951. Đến bây giờ vẫn chưa tìm thấy xác. Anh Vĩnh Mẫn đưa cho người viết bài này xem một số giấy tờ, chứng nhận để đề nghị công nhận chị Băng Tâm là liệt sĩ, nhưng vẫn chưa được.

Con trai thứ ba của cụ Bửu Trác là Vĩnh Mẫn, sinh ngày 30-11-1931 là nhân chứng sống của một gia đình hoàng tộc trực hệ đi theo cách mạng. 14 tuổi, Vĩnh Mẫn gia nhập Việt Minh Trung Bộ làm liên lạc cùng với Phùng Quán, Phan Nghi, Nguyễn Văn Dánh...

Năm 1948, Vĩnh Mẫn được cách mạng đặt tên mới là Phan Thắng và được kết nạp vào Đảng năm 1949. Học xong khóa V Trường lục quân Trần Quốc Toản (Nghệ An), anh được giữ lại trường dạy học.

Năm 1951, Phan Thắng Nam tiến. Phải đi bộ mò mẫm đường rừng, xin gạo dân mà ăn, đào củ chụp mà sống. 8 tháng trời mới vào đến miền Đông Nam Bộ, được anh Trần Văn Trà và Nguyễn Đức Thuận giao làm đại đội phó, sau làm chính trị viên đại đội, hoạt động ở vùng Mỏ Vẹt, Svay Riêng, Tây Ninh, sau đó về Sa Đéc, Tây Nam Bộ. Chính trị viên Phan Thắng từng ăn bồ hốc của Miên, mắm ba khía Nam Bộ, khen ngon, từng đóng đảng phí bằng măng le...

Năm 1954, tập kết ra Bắc, học lại Trường lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 10. Sau đó Vĩnh Mẫn về Sư đoàn 338 do tướng Tô Ký làm tư lệnh, giảng dạy cho cán bộ miền Nam để họ trở lại quê hương chiến đấu.

Tháng 2-1965, anh đi tàu không số vào Nam Bộ công tác, nhưng tàu phải quay lại và được Tổng cục Chính trị phân công làm Trưởng Ban Tuyên huấn D125 như trên đã kể. 

Năm 1973, Thiếu tá Vĩnh Mẫn được điều về thành lập Hải quân khu vực 5, đơn vị hải quân đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam đóng ở Cửa Tùng, giữ chức Phó chính ủy. Khi Cửa Việt giải phóng, Hải quân khu vực 5 về đóng tại Cửa Việt. mọi người hay gọi ông là “Chính ủy Cửa Việt”.

Sau 1975, Phan Thắng xin chuyển ngành làm Trưởng ban C-K Bình Trị Thiên, cũng là công tác ngoại giao, một nhiện vụ đặc biệt lúc bấy giờ. Năm 1989 anh xin nghỉ hưu, về lại ngôi nhà bên sông Hương của bố mẹ để lại. Ngôi nhà ấy hai gia đình anh em (em là Vĩnh Biên, sinh 1940) cùng ở. Vĩnh Mẫn đi cửa phụ, gia đình em đi cửa chính.

Thời kỳ nghỉ hưu, Vĩnh Mẫn đã tìm mọi cách kết nối chiến binh tàu không số, thành lập Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển, đưa kỳ tích kháng chiến vĩ đại này ra ánh sáng công khai! Đó cũng là một chiến tích lớn của anh!

Trong phòng khách nhà anh Vĩnh Mẫn, ảnh cụ Bửu Trác đội mũ phớt, mắt sáng, hằng ngày ngắm nhìn những đứa con, đứa cháu của mình vẫn luôn là những người con yêu Tổ quốc như lòng cụ mong ước 78 năm trước!

Ngô Minh

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?