Bút pháp carnaval của người "giăng lưới bắt chim"

Ở xứ mình, người viết văn về đề tài lịch sử phần lớn là người không viết sử theo nghĩa đen của từ này. Và những trang văn của những người này thường đẹp, được người viết sử và độc giả nhã giám. Nguyễn Huy Thiệp là thầy giáo dạy sử nhưng viết về lịch sử rất khác người viết sử. Ông viết về Gia Long, về Quang Trung, về Hồ Xuân Hương... không giống ai cả. Phải chăng ông bị quên kiến thức lịch sử?

Lịch sử và nhân vật lịch sử của ông đầy hỷ, nộ, ái, ố, lúc thì được ông nói huỵch toẹt ra, khi thì được ông nghiền ngẫm. Điều dễ thấy nhất là ông viết về lịch sử khác hẳn với Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân, Hoàng Quốc Hải, Trần Thùy Mai…, những người kể lại lịch sử bằng văn phong và cấu tứ, kết cấu của văn chương, đương nhiên là có hư cấu, tức khác với "chí", "thông chí", "liệt truyện", "sử ký"… Khác ở chỗ có thể có những sự kiện, quan hệ mà trong chính sử không có. Nguyễn Huy Thiệp cũng hư cấu, đầy hư cấu nhưng không kể chuyện lịch sử.

Có ông vua nào lại nói như thế này không: "Khanh chẳng hiểu gì. Vinh quang nào mà chẳng xây trên điếm nhục?" (Nguyễn Ánh trong "Vàng lửa"). Không có và có lẽ sẽ không bao giờ có.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (1950 - 2021).
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (1950 - 2021).

Trong truyện "Kiếm sắc", khi gặp ca nữ Vinh Hoa, một tuyệt thế giai nhân, Đặng Tiến Đông "đánh rơi cả kiếm", Quang Trung "thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay", còn Nguyễn Ánh thì "bỗng nhiên xây xẩm mặt mày, thở dài, ngã quay ra đất, ngất lịm đi".

Không ai đi "làm sử" với mấy câu "chết người" đó. Là thầy giáo dạy sử, Nguyễn Huy Thiệp biết điều này hơn ai hết. Nhưng ông vẫn viết mấy câu đó. Đó là những câu văn bình thường một cách không bình thường. Không bình thường là vì ở ta khó chấp nhận tư duy và viết như vậy. Nhưng bình thường vì Nguyễn Huy Thiệp, như đã nói, ông không nhằm chứng minh cho cái chân, ông chủ yếu cố đối thoại với quá khứ, ông nghĩ về quá khứ.

Với cảm hứng và động cơ đó, người trần thuật kể chuyện Nguyễn Ánh tâm sự: "Ta chỉ thích như người thường thôi!" (Kiếm sắc). Rồi đến truyện "Phẩm tiết", Nguyễn Ánh còn bảo: "Sứ mệnh đế vương thật là sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện". Có người từng lưu ý đọc truyện hư cấu khác với đọc sử trong trường hợp Nguyễn Huy Thiệp (Cách đọc văn học viết về lịch sử cũng khác với cách đọc các công trình sử học). Chẳng phải vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" cũng được Lưu Quang Vũ viết theo kiểu này sao?

Nguyễn Huy Thiệp có một truyện ngắn có nhan đề rất lạ: "Không có vua". Tôi nghĩ cái tựa đề này có ý nghĩa tượng trưng cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp: phong cách carnaval (carnival, carneval, carnevale). Khi tham gia cuộc chơi carnaval (lễ hội hóa trang), tất cả đều đeo mặt nạ che mặt nhưng thân hình lại để trần trụi. Không còn phân biệt. Một thế giới phi trật tự trong một trật tự rất con người: dân chủ. Không còn đẳng cấp, địa vị giữa ông Kiền vá xe, anh Cấn cắt tóc, anh Khiêm lò mổ, anh Tốn dị dạng với anh Đoài công chức ngành giáo dục, anh Khảm sinh viên. Tất cả đều không hoàn bị như chính thế giới này.

Nguyễn Huy Thiệp không có cảm hứng cũng như động cơ hạ bệ cái quan phương. Ở ông, chỉ có con người cá nhân - cá thể trong ngày hội carnaval tràn ngập tiếng cười nhất nguyên. Trong truyện ngắn "Nguyễn Thị Lộ", khi Nguyễn (Nguyễn Trãi) gặp Thị Lộ, "con người cũ trong ông chết đi". "Con người cũ", "chết", đây đâu phải là từ ngữ của thời Nguyễn Trãi, của châu Á thế kỷ XV! Châu Á hồi bấy giờ chỉ có con người trong mối quan hệ thiên - địa - nhân, thiên nhân tương cảm và thời gian tuần hoàn, ở đó cái gì đã qua đều có tính chuẩn tắc. "Con người cũ", "chết" có gì đó giống với cách nói quyết liệt của Nguyễn Tuân giữa thế kỉ trước khi nhà văn này sửa lại tác phẩm "Chùa đàn" ! Cũng vì thế, người ta có thể chấp nhận câu văn sau về Nguyễn Thị Lộ: "Nàng không súng sính bởi học vấn hoặc phẩm hạnh, cũng không cứng nhắc bởi đồ lót mình" (truyện "Nguyễn Thị Lộ"). Có nghĩa là, với lớp từ của ngày nay, nhân vật lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp sống cùng thời với độc giả theo cảm quan tiểu thuyết.

"Chút thoáng Xuân Hương" là truyện ngắn khá dài của Nguyễn Huy Thiệp, gồm 3 truyện, trong đó "Truyện thứ ba" kể về một nhân vật "anh" nào đó loay hoay với vai diễn Chiêu Hổ mà đạo diễn giao cho. Điều quan trọng là bỗng anh hình dung có lẽ ngày xưa Xuân Hương đã sống như thế. Những thu hoạch siêu thời gian này đương nhiên mâu thuẫn tuyệt đối với cái kịch bản "khốn nạn, văn không ra văn, chữ không ra chữ (…). Người ta đắp điếm cho nhiều nhân vật những thứ tư tưởng cao siêu đáng ngờ". Đây rồi: "Có lẽ ngày xưa chính là Xuân Hương sống thế". Hình như có người từng nhận xét rất hay rằng truyện ngắn về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp không chủ trương minh họa chân lý mà chỉ có những giả thuyết về những gì đã xảy ra.

Bìa sách “Tướng về Hưu” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
Bìa sách “Tướng về Hưu” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.

Tuy không phải là người đi tiên phong, nhưng Nguyễn Huy Thiệp là người quyết liệt nhất ở vào thời điểm giao mùa của văn học Việt Nam hồi thế kỷ trước: từ văn học sử thi thành văn học của đời thường, đời tư. Xét trong tính lịch sử - cụ thể, Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn quá khổ, tức không thể đo bằng kích tấc thông thường vào cái thời ông mới bắt đầu cầm bút.

Câu văn của Nguyễn Huy Thiệp khiến người đọc có cảm giác như những nhát kéo cắt vào cái tôi, cả cái siêu tôi, thoạt đọc có vẻ lạnh lùng, không ít chỗ bỗ bã. Đằng sau cái vẻ tưởng như cộc lốc của ông là một ao ước cháy bỏng rằng con người hãy vươn lên sống đẹp. 

Trong truyện "Tướng về hưu", ông Bổng là người "ghê gớm", "ăn nói văng mạng", đang lúc người nhà đóng quan tài cho chị dâu thì đã tranh thủ nói với cháu: "Mất mẹ bộ xa lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván". 

Cái con người tưởng đâu ruỗng hết cả vì vong thân này thì hôm đưa tang anh, trên đường về, lại nói mấy câu rất nghiêm túc: "Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước (…) Tất cả đều đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, Nhân dân muôn năm". 

Ở đây, nếu trích đủ, sẽ thấy một định đề về bán kính của cảm xúc thẩm mỹ: Cái gì ở gần quá, vào đụng ra chạm, sẽ gây cảm giác tầm thường, lò xo cảm xúc không bật nảy. Điều đáng nói là nhà văn nhìn thấy đốm người trong con người nhân vật. Với "Tướng về hưu", Nguyễn Huy Thiệp gặp gỡ Nam Cao khi nhìn thấy ông Bổng "tốt nhưng nghèo". Chao ôi, làm sao có thể cứu vớt lấy cái thiện lương nơi con người!

"Chảy đi sông ơi" là câu chuyện đầy xúc động. Cái đẹp đích thực, hiện thân là chị Thắm, thường lẩn khuất, lặng lẽ. "Cà phê Hàng Hành" là câu chuyện về sự nhận chân ánh sáng và bóng tối, và đằng sau đó còn là những day dứt, lo âu cho văn hóa dân tộc. 

Ở truyện "Sang sông" cũng vậy, nhà thơ, ông giáo, nhà sư… đâu có cứu được đứa bé bị kẹt tay ở miệng của chiếc bình cổ; chỉ có "tên cướp" với một cú bổ mạnh của cây côn nhị khúc. Rồi "tên cướp" bỏ đi với "di huấn": "Trẻ con là tương lai đấy! Làm gì cũng phải nhân đức hàng đầu". "Những người thợ xẻ" là sự tuyên chiến với cái trí trá, giả dối, mà đau đớn thay lại là sự giả trá trong giới trí thức. 

"Muối của rừng" là thiên truyện độc đáo, một diễn ngôn phê bình sinh thái ra đời rất sớm ở Việt Nam. Truyện ngắn này, theo tôi cảm nhận, xứng đáng được xếp trong tuyển tập truyện ngắn kinh điển của thế giới. Nó kêu gọi tất thảy chúng ta hãy thuận theo tự nhiên mà sống, như nhân vật ông Diểu sau cuộc đi săn thất bại: "Ra khỏi thung lũng, ông Diểu đi xuống cánh đồng (…). Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi". Thật ra ông Diểu không thất bại mà trái lại, ông rất thành công bởi ông nhận được bài học về thiên nhiên, về con người, về sự sống…

Sự thật đời sống, phẩm giá con người trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp quý và mong manh đến mức như huyền thoại. Cầu mong ông yên nghỉ. Các thế hệ sau sẽ nối bước ông đi tìm "Con gái thủy thần".

Đặng Ngọc Hùng

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.