Sến, sang, buôn, buông, be

Tương truyền ông thi sĩ Chiêu Lì có làm bài thơ theo lối “yết hậu”:

Sống ở nhân gian đánh chén nhè

Chết xuống âm phủ giắt kè kè

Diêm vương phán hỏi mang gì thế?

- Be.

“Đánh chén” là chỉ sự ăn uống nói chung. Tục ngữ có những câu như “Thuận buồm xuôi gió chén chú chén anh, lên thác xuống ghềnh mày tao chi tớ”- khi xuôi chèo mát mái thì vui vẻ bù khú “chèn tạc chén thù”, “chén đầy chén vơi” cực kỳ thân mật nhưng lúc gặp chuyện thì lại hục hặc nhau. Trong bài thơ trên do có từ “chén nhè” nên ta biết dứt khoát là có uống rượu, mà mỗi lần “đánh chén” do “quá chén” nên đến độ say nhè/ bét nhè.

canh buon ban ngay xua tai ha noi.jpg -0
Cảnh buôn bán ngày xưa tại Hà Nội.

Say là phải rồi. Bình thường uống mỗi ngày chỉ cần dưa cà qua bữa, “cơm tẻ mẹ ruột”, ăn cốt no rồi còn làm việc. Trong khi đó, đã “đánh chén”, lai rai “ít ly y lít”, người ta chuẩn bị xôm tụ hơn gấp bội phần. Tạp chí Nam Phong số 101 tháng 4/1931 có đăng bài phú “Răn uống rượu” cho ta thấy chi tiết hoành tráng của cuộc nhậu ngày xưa:

Của tươi theo khói, xì xèo ốc nướng, cua rang;

Vật tốt đương bơi, tức tắc trạch bung, lươn sáo.

Thóc mách tìm quả khế, chùm sung;

Cóp nhặt để quả cam, trái táo.

Tôm khô gỏi sứa, vật đường bể tanh tao;

Lá lộc rau thơm, giống quanh vườn vơ váo.

Sớm hàng hoa, thịt nạc, sáo thuôn;

Trưa cá quả, thìa là nấu cháo.

Tiết dê tích đó dở dang;

Đầu chó trữ đây khô ráo.

Ấy là vị ngon, ấy là cuộc rượu.

“Rượu vào lời ra”. Đã rượu thì phải hát hò mới thú. Thì, xem kìa, bài phú này, chỉ vài câu đã vẽ lên hoạt cảnh hài hước:

Miệng lắp bắp tiếng to tiếng nhỏ, giữa ồn ào như ếch thấy mưa;

Áo lôi thôi bước thấp bước cao, đi thất thểu như cò phải bão.

Gật gù nhổ vặt như tơ;

Lảm nhảm nói dai như chão.

Hống hách đánh con chửi vợ, mắt quắm diều hâu;

Hung hăng chửi chó mắng mèo, cổ giương rắn ráo.

Không rõ, trong cuộc nhậu tưng bưng bừng này các bợm rượu nốc hết bao nhiêu be, để rồi sau này, “Chết xuống âm phủ giắt kè kè/ Diêm vương phán hỏi mang gì thế?”, liền trả lời hiên ngang: “- Be”. Từ thú vị nhất trong bài thơ này, nhất là đối với người Nam vẫn từ “be”, nói như thế vì ở vùng này đã có từ “be sến”. Mà, từ sến này lại cực kỳ lôi thôi.

Rằng, có những từ mới xuất hiện, sau đó, tồn tại còn dài dài, nếu thời điểm đó không ghi nhận về nguyên cớ ra đời, ắt sau này bí rị. Tha hồ tranh cãi. Chẳng hạn, “sến/ mari sến/ mari phông tên”, gần đây lại còn có thêm “sến rện/ sến như con hến/ sến chảy nước” tùy theo cấp độ ta hiểu rất sến, cực sến. Thế sến là gì, có liên quan gì với nghĩa mà “Việt Nam từ điển” (1931) đã giải thích “Sến là thứ gỗ tốt, rắn: cột sến, rầm sến”? Tên gọi gỗ sến đã đi vào ca dao:

Cảm thương ô dước, bời lời

Cha sao, mẹ sến dựa nơi gốc bần

Như đã nói, đi về miền Nam đầu thế kỷ XIX, còn nghe đến cụm từ “be sến”, nếu ông Huình Tịnh Paulus Của không giải thích, ta ngắc ngứ lắm đây. Nó là cách nói tắt “be ghe bằng ván sến”, tức ván đóng nối hai bên ghe; be là “cơi thêm, nối thêm”; có thể dẫn chứng vài từ như “lên be”: Cơi thêm ván, nối thêm (thường nói về ghe thuyền); “be khăn”: Bịt khăn, vấn khăn cho lớn v.v… Rõ ràng, sến trong be sến không dây mơ rễ má gì với ma ri sến.

Vậy, “sến” này là gì và do đâu lại trở thành tiếng lóng?

Tưởng rằng dễ. Nhưng tẩn mẩn lật từ điển ra, lại thấy mỗi nơi mỗi phách. Chẳng hạn, “Sến: gái điếm rẻ tiền, bắc bực làm cao, thật sự chẳng có gì hơn người; dở mà hay làm màu, làm dáng; rẻ tiền, mạt hạng, chẳng có giá trị, không đạt tiêu chuẩn giá trị” (Nam Chi Bùi Thanh Kiên - Phương ngữ Nam Bộ, 2015); “quê mùa, diêm dúa, ngụ ý thiếu thanh tao” (Bùi Minh Đức - Từ điển tiếng Huế, 2004); “Do từ sen/con sen “dùng để gọi đứa gái nhỏ nhà nghèo phải đi ở đợ giúp việc cho nhà giàu” nói trại ra là sến, là “Tên gọi một cách chế nhạo về người con gái nghèo hèn ở đợ cho người nước ngoài và bày đặt lấy tên theo tiếng nước ngoài là Marie - tức Mari Sen” (Lê Gia - Tiếng nói nôm na, 1999)…

Lại có ý kiến tranh luận: “Về mặt âm lý, nếu sến có thể do sen mà ra thì nó cũng hoàn toàn có thể bắt nguồn từ selles. Sến < selles ban đầu vốn là một từ dùng để tỏ ý phủ nhận sự sang trọng, sự quý phái, v.v.. của cô gái, dần dần mang cái nghĩa mới là: nhà quê, thấp kém về văn hóa, v.v…” (An Chi); “sến” nguyên là “Maria Sến”- đọc theo lối Việt hóa tên nữ diễn viên người Áo Maria Schell. Cô Schell trở thành hiện tượng ở các đô thị miền Nam đầu những năm 1960, sau khi thủ vai một vũ nữ hộp đêm hát múa một cách khiêu khích, bốc lửa trong phim “Anh em nhà Karamazov” - Hollywood dựng năm 1958 theo tác phẩm của đại văn hào Nga Dostoievsky (Hoàng Phủ Ngọc Phan) v.v...

Vậy, ta chọn lấy cách giải thích ý kiến nào? Khó lắm. Và từ “sến” ấy trở nên càng rắc rối tợn khi xuất hiện cụm từ “nhạc sến”, ngay lập tức có “nhạc sang”! Hóa ra “sang” là trái ngược với “sến”? Nhiều người ắt bụm miệng cười khi nghe nói, “sến” cũng còn có nghĩa là… “sang”. Đùa dai nhỉ? Làm gì có chuyện kỳ quặc này? Thế mà có đấy. Bằng chứng “Việt Nam tự điển” (1970) ghi nhận: “Sến: Sang lại, nhượng lại, cả hai đều có điều kiện: Sến căn phố cho người ta được 50 ngàn đồng; Sến căn phố đặng ở hết 50 ngàn đồng”. Vẫn chưa thuyết phục ư? Xin thưa, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) cũng  ghi nhận: “Sến: Sang, nhượng, bán cho, mua cho: sến căn nhà cho người khác; sến được căn hộ gần đường”.

 Quay về với từ “be”. Ngoài nghĩa “cơi thêm, nối thêm”, be còn được hiểu là “đắp lên cho cao hoặc đắp bọc phía ngoài thêm một lần nữa cho chắc”- theo “Phương ngữ Nam Bộ”. Thế thì, từ be này là nhằm chỉ trường hợp như:

Bỏ công đắp đập be bờ

Để ai quảy vó mang lờ đến đơm

…

Bao giờ cho đến tháng Hai

Con gái làm cỏ con trai be bờ…

Ngoài ra, be còn có những nghĩa khác mà “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” do Nguyễn Văn Ái chủ biên đã bổ sung thêm như “Be: 1. Men theo, dọc theo. Xuồng bơi be theo bờ sông. 2. Rề lại, bám theo, men lại. Xuồng be gần bến”. Ngay cả nguyên khúc gỗ tròn người ta cũng gọi là be/ be gỗ, còn có từ tương tự là súc/ súc gỗ. Trong khi đó, “Việt Nam từ điển” (1931) do người Bắc biên soạn, be có nghĩa là cái chai nhỏ đựng rượu.

Rượu ngon chẳng lọ be sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Điều này cho thấy người Việt chuộng chất lượng, thực chất hơn hình thức lòe loẹt, hào nhoáng bề ngoài, thế nên còn có câu tương tự “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Chắc rằng ngày nay ít ai thấy cái be rượu có hình dáng như củ tỏi, dấu vết ấy còn lưu trong câu đối xưa:

Tết nhà nghèo, có gì đâu, đánh vài be củ tỏi;

 Khách nhà nọ, đâm ra ương, nói chuyện cà riềng.

Nói cà riềng là nói đi nói lại, cằn nhằn, lải nhải, đay nghiến mỗi một chuyện đến phát chán. Tại sao như thế? Bởi “Khách đến nhà không gà thì vịt”, huống gì Tết nhất, chủ chỉ đãi mỗi “vài be củ tỏi” nên khách “đâm ra ương”/ ương ngạnh/ ương bướng, khó chịu, gàn dở, bướng bỉnh kiếm cớ gây chuyện lôi thôi. Cái hay của vế đối trên, còn là “tỏi” đối với “riềng” khiến ta nhớ đến câu cửa miệng “Nói cà riềng cà tỏi” là hiểu theo nghĩa vừa nêu trên.

Những sành uống rượu, trà thường bảo: “Rượu trên be, chè dưới ấm” - hàm ý rượu ngon nằm ở phần trên, chứ phần còn lại dưới đáy, phần cạn thì ngon cái nỗi gì? “Rượu ngon cái cặn cũng ngon/ Thương em chẳng luận chồng con mấy đời”. Từ “cũng” đã cho ta thấy rõ điều vừa giải thích. Ngược lại, thưởng thức trà thì uống phần dưới mới đúng điệu vì khi đó hương trà đã ra ngấm nhuần trong ấm/ bình.

Với từ be, ta còn gặp trong câu tục ngữ: “Bán đong buông, buôn đong be”. Có lẽ nhiều người cảm thấy khó hiểu và cũng khó có thể giải thích rành mạch. Với từ buông/ buôn rõ ràng có hai nghĩa khác nhau. “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng” (Tú Xương), có thể thấy hình ảnh tảo tần chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trong việc nuôi chồng con.

Thế nhưng, còn tùy ngữ cảnh nữa, chẳng hạn, một người hỏi: “Ủa, họp mặt đông đủ thế này, X đi đâu, sao không thấy?”, câu trả lời: “X đã về buôn”. Có thể hiểu, X đã về nhà lo chuyện buôn bán của mình chăng? Chắc gì, buôn còn là từ mà người dân tộc thiểu số ở miền Nam còn dùng để chỉ làng, bản, không liên quan gì đến “Buôn tàu bán bè, không bằng ăn dè hà tiện”…

Đã buôn thì bán, tất nhiên, nhưng ta hãy nghe câu đối thoại này, chẳng hạn A hỏi B: “Ủa, họp mặt đông đủ thế này, X đi đâu, sao không thấy?”, B trả lời: “X đi bán muối rồi”. Chẳng phải buôn với bán gì cả. Đơn giản X đã ngủm củ tỏi, đã đi tàu suốt, đã đi hụi nhị tì, nói cách khác là X đã “ăn muối/ ăn bùn/ ăn đất”… Các từ này, dù khi nói không thể hiện ra ngoài mặt biểu cảm của bất kỳ sắc thái nào, nhưng ta hoàn toàn có thể biết thái độ, cảm nghĩ dành cho X.

Xét ra từ buôn cũng “rắc rối” lắm đây, bằng chứng là trong sách “Bên lề sách cũ” (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh - 2013), học giả Vương Hồng Sển cho biết chính Trương Vĩnh Ký đã viết trong “Tiểu địa dư”: “Lá buôn là bối diệp; lá buông là hồng diệp” (tr.8). Rõ ràng hai loại lá khác nhau, đó là “lá buôn dùng để chép kinh; lá buông dùng lợp nhà, làm quạt”… Thế nhưng khi tra tự điển hiện nay, ta chỉ thấy có mỗi từ “lá buôn”, chẳng hạn, “lá buôn: thứ lá trắng người ta hay dùng mà dệt đệm buồm” - “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895), “lá buôn dùng dệt buồm” - “Việt ngữ chính tả tự vị” (1959) của Lê Ngọc Trụ. Rất tiếc hiện nay “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) lại bỏ sót từ buôn/ lá buôn theo nghĩa này.

Trong câu tục ngữ “Bán đong buông, buôn đong be” thì buông là gì? Là thả, tỉ như “Buông sào bỏ lái”, “Buông tay cỏ, bỏ tay gầu”… ta hiểu là không giữ lại nữa, cho vật đó rời khỏi tay. Từ “đong” trong ngữ cảnh này, cho biết đó là động tác dùng cái lon, lon bơ/ lon gạo đong/ đựng, chẳng hạn, đong gạo/ đong đậu. Khi bán, đong một cách bình thường gọi là “đong buông”, được bao nhiêu là được, không thêm không bớt. Nhưng khi mình đi mua thì không thể buông mà phải be. “Be: Đong cái gì đã đầy rồi lại dùng ngón tay ngăn lại không cho rơi lăn xuống” - “Việt Nam tự điển” (1931).

Qua động tác “buông” và “be” trong ngữ cảnh này, ta có thể thấy cách đong trong mua bán không chỉ ngày trước, mà, nay vẫn thế.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?