Sến, sang, buôn, buông, be

Tương truyền ông thi sĩ Chiêu Lì có làm bài thơ theo lối “yết hậu”:

Sống ở nhân gian đánh chén nhè

Chết xuống âm phủ giắt kè kè

Diêm vương phán hỏi mang gì thế?

- Be.

“Đánh chén” là chỉ sự ăn uống nói chung. Tục ngữ có những câu như “Thuận buồm xuôi gió chén chú chén anh, lên thác xuống ghềnh mày tao chi tớ”- khi xuôi chèo mát mái thì vui vẻ bù khú “chèn tạc chén thù”, “chén đầy chén vơi” cực kỳ thân mật nhưng lúc gặp chuyện thì lại hục hặc nhau. Trong bài thơ trên do có từ “chén nhè” nên ta biết dứt khoát là có uống rượu, mà mỗi lần “đánh chén” do “quá chén” nên đến độ say nhè/ bét nhè.

canh buon ban ngay xua tai ha noi.jpg -0
Cảnh buôn bán ngày xưa tại Hà Nội.

Say là phải rồi. Bình thường uống mỗi ngày chỉ cần dưa cà qua bữa, “cơm tẻ mẹ ruột”, ăn cốt no rồi còn làm việc. Trong khi đó, đã “đánh chén”, lai rai “ít ly y lít”, người ta chuẩn bị xôm tụ hơn gấp bội phần. Tạp chí Nam Phong số 101 tháng 4/1931 có đăng bài phú “Răn uống rượu” cho ta thấy chi tiết hoành tráng của cuộc nhậu ngày xưa:

Của tươi theo khói, xì xèo ốc nướng, cua rang;

Vật tốt đương bơi, tức tắc trạch bung, lươn sáo.

Thóc mách tìm quả khế, chùm sung;

Cóp nhặt để quả cam, trái táo.

Tôm khô gỏi sứa, vật đường bể tanh tao;

Lá lộc rau thơm, giống quanh vườn vơ váo.

Sớm hàng hoa, thịt nạc, sáo thuôn;

Trưa cá quả, thìa là nấu cháo.

Tiết dê tích đó dở dang;

Đầu chó trữ đây khô ráo.

Ấy là vị ngon, ấy là cuộc rượu.

“Rượu vào lời ra”. Đã rượu thì phải hát hò mới thú. Thì, xem kìa, bài phú này, chỉ vài câu đã vẽ lên hoạt cảnh hài hước:

Miệng lắp bắp tiếng to tiếng nhỏ, giữa ồn ào như ếch thấy mưa;

Áo lôi thôi bước thấp bước cao, đi thất thểu như cò phải bão.

Gật gù nhổ vặt như tơ;

Lảm nhảm nói dai như chão.

Hống hách đánh con chửi vợ, mắt quắm diều hâu;

Hung hăng chửi chó mắng mèo, cổ giương rắn ráo.

Không rõ, trong cuộc nhậu tưng bưng bừng này các bợm rượu nốc hết bao nhiêu be, để rồi sau này, “Chết xuống âm phủ giắt kè kè/ Diêm vương phán hỏi mang gì thế?”, liền trả lời hiên ngang: “- Be”. Từ thú vị nhất trong bài thơ này, nhất là đối với người Nam vẫn từ “be”, nói như thế vì ở vùng này đã có từ “be sến”. Mà, từ sến này lại cực kỳ lôi thôi.

Rằng, có những từ mới xuất hiện, sau đó, tồn tại còn dài dài, nếu thời điểm đó không ghi nhận về nguyên cớ ra đời, ắt sau này bí rị. Tha hồ tranh cãi. Chẳng hạn, “sến/ mari sến/ mari phông tên”, gần đây lại còn có thêm “sến rện/ sến như con hến/ sến chảy nước” tùy theo cấp độ ta hiểu rất sến, cực sến. Thế sến là gì, có liên quan gì với nghĩa mà “Việt Nam từ điển” (1931) đã giải thích “Sến là thứ gỗ tốt, rắn: cột sến, rầm sến”? Tên gọi gỗ sến đã đi vào ca dao:

Cảm thương ô dước, bời lời

Cha sao, mẹ sến dựa nơi gốc bần

Như đã nói, đi về miền Nam đầu thế kỷ XIX, còn nghe đến cụm từ “be sến”, nếu ông Huình Tịnh Paulus Của không giải thích, ta ngắc ngứ lắm đây. Nó là cách nói tắt “be ghe bằng ván sến”, tức ván đóng nối hai bên ghe; be là “cơi thêm, nối thêm”; có thể dẫn chứng vài từ như “lên be”: Cơi thêm ván, nối thêm (thường nói về ghe thuyền); “be khăn”: Bịt khăn, vấn khăn cho lớn v.v… Rõ ràng, sến trong be sến không dây mơ rễ má gì với ma ri sến.

Vậy, “sến” này là gì và do đâu lại trở thành tiếng lóng?

Tưởng rằng dễ. Nhưng tẩn mẩn lật từ điển ra, lại thấy mỗi nơi mỗi phách. Chẳng hạn, “Sến: gái điếm rẻ tiền, bắc bực làm cao, thật sự chẳng có gì hơn người; dở mà hay làm màu, làm dáng; rẻ tiền, mạt hạng, chẳng có giá trị, không đạt tiêu chuẩn giá trị” (Nam Chi Bùi Thanh Kiên - Phương ngữ Nam Bộ, 2015); “quê mùa, diêm dúa, ngụ ý thiếu thanh tao” (Bùi Minh Đức - Từ điển tiếng Huế, 2004); “Do từ sen/con sen “dùng để gọi đứa gái nhỏ nhà nghèo phải đi ở đợ giúp việc cho nhà giàu” nói trại ra là sến, là “Tên gọi một cách chế nhạo về người con gái nghèo hèn ở đợ cho người nước ngoài và bày đặt lấy tên theo tiếng nước ngoài là Marie - tức Mari Sen” (Lê Gia - Tiếng nói nôm na, 1999)…

Lại có ý kiến tranh luận: “Về mặt âm lý, nếu sến có thể do sen mà ra thì nó cũng hoàn toàn có thể bắt nguồn từ selles. Sến < selles ban đầu vốn là một từ dùng để tỏ ý phủ nhận sự sang trọng, sự quý phái, v.v.. của cô gái, dần dần mang cái nghĩa mới là: nhà quê, thấp kém về văn hóa, v.v…” (An Chi); “sến” nguyên là “Maria Sến”- đọc theo lối Việt hóa tên nữ diễn viên người Áo Maria Schell. Cô Schell trở thành hiện tượng ở các đô thị miền Nam đầu những năm 1960, sau khi thủ vai một vũ nữ hộp đêm hát múa một cách khiêu khích, bốc lửa trong phim “Anh em nhà Karamazov” - Hollywood dựng năm 1958 theo tác phẩm của đại văn hào Nga Dostoievsky (Hoàng Phủ Ngọc Phan) v.v...

Vậy, ta chọn lấy cách giải thích ý kiến nào? Khó lắm. Và từ “sến” ấy trở nên càng rắc rối tợn khi xuất hiện cụm từ “nhạc sến”, ngay lập tức có “nhạc sang”! Hóa ra “sang” là trái ngược với “sến”? Nhiều người ắt bụm miệng cười khi nghe nói, “sến” cũng còn có nghĩa là… “sang”. Đùa dai nhỉ? Làm gì có chuyện kỳ quặc này? Thế mà có đấy. Bằng chứng “Việt Nam tự điển” (1970) ghi nhận: “Sến: Sang lại, nhượng lại, cả hai đều có điều kiện: Sến căn phố cho người ta được 50 ngàn đồng; Sến căn phố đặng ở hết 50 ngàn đồng”. Vẫn chưa thuyết phục ư? Xin thưa, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) cũng  ghi nhận: “Sến: Sang, nhượng, bán cho, mua cho: sến căn nhà cho người khác; sến được căn hộ gần đường”.

 Quay về với từ “be”. Ngoài nghĩa “cơi thêm, nối thêm”, be còn được hiểu là “đắp lên cho cao hoặc đắp bọc phía ngoài thêm một lần nữa cho chắc”- theo “Phương ngữ Nam Bộ”. Thế thì, từ be này là nhằm chỉ trường hợp như:

Bỏ công đắp đập be bờ

Để ai quảy vó mang lờ đến đơm

Bao giờ cho đến tháng Hai

Con gái làm cỏ con trai be bờ…

Ngoài ra, be còn có những nghĩa khác mà “Từ điển phương ngữ Nam Bộ” do Nguyễn Văn Ái chủ biên đã bổ sung thêm như “Be: 1. Men theo, dọc theo. Xuồng bơi be theo bờ sông. 2. Rề lại, bám theo, men lại. Xuồng be gần bến”. Ngay cả nguyên khúc gỗ tròn người ta cũng gọi là be/ be gỗ, còn có từ tương tự là súc/ súc gỗ. Trong khi đó, “Việt Nam từ điển” (1931) do người Bắc biên soạn, be có nghĩa là cái chai nhỏ đựng rượu.

Rượu ngon chẳng lọ be sành

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Điều này cho thấy người Việt chuộng chất lượng, thực chất hơn hình thức lòe loẹt, hào nhoáng bề ngoài, thế nên còn có câu tương tự “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Chắc rằng ngày nay ít ai thấy cái be rượu có hình dáng như củ tỏi, dấu vết ấy còn lưu trong câu đối xưa:

Tết nhà nghèo, có gì đâu, đánh vài be củ tỏi;

 Khách nhà nọ, đâm ra ương, nói chuyện cà riềng.

Nói cà riềng là nói đi nói lại, cằn nhằn, lải nhải, đay nghiến mỗi một chuyện đến phát chán. Tại sao như thế? Bởi “Khách đến nhà không gà thì vịt”, huống gì Tết nhất, chủ chỉ đãi mỗi “vài be củ tỏi” nên khách “đâm ra ương”/ ương ngạnh/ ương bướng, khó chịu, gàn dở, bướng bỉnh kiếm cớ gây chuyện lôi thôi. Cái hay của vế đối trên, còn là “tỏi” đối với “riềng” khiến ta nhớ đến câu cửa miệng “Nói cà riềng cà tỏi” là hiểu theo nghĩa vừa nêu trên.

Những sành uống rượu, trà thường bảo: “Rượu trên be, chè dưới ấm” - hàm ý rượu ngon nằm ở phần trên, chứ phần còn lại dưới đáy, phần cạn thì ngon cái nỗi gì? “Rượu ngon cái cặn cũng ngon/ Thương em chẳng luận chồng con mấy đời”. Từ “cũng” đã cho ta thấy rõ điều vừa giải thích. Ngược lại, thưởng thức trà thì uống phần dưới mới đúng điệu vì khi đó hương trà đã ra ngấm nhuần trong ấm/ bình.

Với từ be, ta còn gặp trong câu tục ngữ: “Bán đong buông, buôn đong be”. Có lẽ nhiều người cảm thấy khó hiểu và cũng khó có thể giải thích rành mạch. Với từ buông/ buôn rõ ràng có hai nghĩa khác nhau. “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng” (Tú Xương), có thể thấy hình ảnh tảo tần chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam trong việc nuôi chồng con.

Thế nhưng, còn tùy ngữ cảnh nữa, chẳng hạn, một người hỏi: “Ủa, họp mặt đông đủ thế này, X đi đâu, sao không thấy?”, câu trả lời: “X đã về buôn”. Có thể hiểu, X đã về nhà lo chuyện buôn bán của mình chăng? Chắc gì, buôn còn là từ mà người dân tộc thiểu số ở miền Nam còn dùng để chỉ làng, bản, không liên quan gì đến “Buôn tàu bán bè, không bằng ăn dè hà tiện”…

Đã buôn thì bán, tất nhiên, nhưng ta hãy nghe câu đối thoại này, chẳng hạn A hỏi B: “Ủa, họp mặt đông đủ thế này, X đi đâu, sao không thấy?”, B trả lời: “X đi bán muối rồi”. Chẳng phải buôn với bán gì cả. Đơn giản X đã ngủm củ tỏi, đã đi tàu suốt, đã đi hụi nhị tì, nói cách khác là X đã “ăn muối/ ăn bùn/ ăn đất”… Các từ này, dù khi nói không thể hiện ra ngoài mặt biểu cảm của bất kỳ sắc thái nào, nhưng ta hoàn toàn có thể biết thái độ, cảm nghĩ dành cho X.

Xét ra từ buôn cũng “rắc rối” lắm đây, bằng chứng là trong sách “Bên lề sách cũ” (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh - 2013), học giả Vương Hồng Sển cho biết chính Trương Vĩnh Ký đã viết trong “Tiểu địa dư”: “Lá buôn là bối diệp; lá buông là hồng diệp” (tr.8). Rõ ràng hai loại lá khác nhau, đó là “lá buôn dùng để chép kinh; lá buông dùng lợp nhà, làm quạt”… Thế nhưng khi tra tự điển hiện nay, ta chỉ thấy có mỗi từ “lá buôn”, chẳng hạn, “lá buôn: thứ lá trắng người ta hay dùng mà dệt đệm buồm” - “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895), “lá buôn dùng dệt buồm” - “Việt ngữ chính tả tự vị” (1959) của Lê Ngọc Trụ. Rất tiếc hiện nay “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) lại bỏ sót từ buôn/ lá buôn theo nghĩa này.

Trong câu tục ngữ “Bán đong buông, buôn đong be” thì buông là gì? Là thả, tỉ như “Buông sào bỏ lái”, “Buông tay cỏ, bỏ tay gầu”… ta hiểu là không giữ lại nữa, cho vật đó rời khỏi tay. Từ “đong” trong ngữ cảnh này, cho biết đó là động tác dùng cái lon, lon bơ/ lon gạo đong/ đựng, chẳng hạn, đong gạo/ đong đậu. Khi bán, đong một cách bình thường gọi là “đong buông”, được bao nhiêu là được, không thêm không bớt. Nhưng khi mình đi mua thì không thể buông mà phải be. “Be: Đong cái gì đã đầy rồi lại dùng ngón tay ngăn lại không cho rơi lăn xuống” - “Việt Nam tự điển” (1931).

Qua động tác “buông” và “be” trong ngữ cảnh này, ta có thể thấy cách đong trong mua bán không chỉ ngày trước, mà, nay vẫn thế.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?