Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa ra mắt bạn đọc trường ca “Lò mổ”. Ông viết “Lò mổ” từ năm 2016, từ những ám ảnh của ông về lò mổ và những thân phận người. Và đến hôm nay, sau gần 10 năm, ông mới xuất bản trường ca này bằng cả bản tiếng Việt và tiếng Anh.

“Bản cáo trạng không nguôi về những sai trái của thế kỷ 20”

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói, ông hoàn thành trường ca này vào khoảng năm 2016, nhưng thực chất ý tưởng đã bắt đầu từ rất lâu, có lẽ là từ những năm tháng còn rất trẻ, khi ông cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông. Đó là lần đầu tiên trong đời ông tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật mà chính ông cũng cảm nhận được nỗi đau và nỗi sợ hãi của chúng.

Nhưng lò mổ không chỉ là nơi sự sống bị chấm dứt một cách đau đớn, mà nó còn là một “vũ trụ” của những thân phận con người đầy ám ảnh, những người sống ở rìa xã hội với công việc nặng nhọc, nguy hiểm. Từ những ám ảnh đó, ông đã viết xong trường ca này năm 2016, không sửa chữa bất cứ đoạn nào, chương nào cho đến tận bây giờ.

Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều -0
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tại buổi ra mắt trường ca “Lò mổ”. Ảnh: Duy Hiển.

“Trong cơn ác mộng của mình, tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết. Tôi nhìn thấy máu chảy xối xả, tôi nghe tiếng bầy ruồi đồng ca, tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ về phía cánh đồng trên cao. Có gì đó đau đớn, bi thương, kỳ vĩ xuất hiện. Rồi tôi nhận ra đó là thi ca”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói về trường ca “Lò mổ”. Từ đó, hình ảnh lò mổ ám ảnh trong giấc mơ, trở thành biểu tượng cho một thực tại rộng lớn hơn, nơi con người cũng bị cuốn vào vòng xoáy khắc nghiệt của xã hội, nơi mà những thân phận thấp bé luôn bị đẩy về phía tận cùng của sự sống. Lò mổ ấy đã khơi dậy trong ông nhiều câu hỏi về sự sống và cái chết, về cách con người chúng ta đang tồn tại. Để sống, liệu chúng ta có đang đẩy người khác vào cảnh sống đọa đày, khốn khổ không?

“Tập trường ca này không chỉ là câu chuyện về quá khứ mà là hành trình tự vấn, đi tìm câu trả lời cho những trăn trở về ý nghĩa cuộc sống và sự tồn tại. Có lẽ tôi mong muốn, khi độc giả tiếp cận với “Lò mổ”, họ cũng sẽ dừng lại để suy ngẫm về con đường mà nhân loại đã và đang đi, để nhìn nhận lại cách chúng ta đối xử với nhau và với môi trường chung quanh”. Ông nói.

Nhà thơ Bruce Weigl (Mỹ) - người chuyển ngữ trường ca “Lò mổ” sang tiếng Anh đánh giá: “Tôi có được đặc quyền làm bạn và cộng tác về mặt văn học với Thiều hơn 30 năm qua, cũng như tiến triển tình bằng hữu giữa gia đình chúng tôi tại Mỹ và Việt Nam. Chỉ có sự thân thiết của tình bạn mới có thể giúp cho việc dịch bản trường ca phức tạp này được thành công. Trường ca là sự tượng trưng hình ảnh mạnh mẽ, và là bản cáo trạng không nguôi của những sai trái trong thế kỷ 20.

Trường ca này đại diện cho một cử chỉ thi ca can đảm vì nó tự lập về mặt tinh thần, nó từ chối đầu hàng những yêu cầu của truyền thống, và cho phép người đọc cảm nhận được thế giới trong hình thức gan góc nhất, sự thô sơ của sự thật thể hiện qua cách mà ta không thể bỏ qua. Trong 50 năm viết và suy nghĩ về thi ca, tôi chỉ dùng từ “kiệt tác” một vài lần, nhưng tôi dùng từ đó ở đây vì tôi tin vào sức mạnh của trưòng ca này và tôi tin là bạn cũng sẽ tìm được sức mạnh đó ở đây, và do đó tôi muốn bạn chú ý một cách thận trọng”.

Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều -0
Một tác phẩm trong bộ tranh “Nguyện cầu”.

Tiếng vọng của tình yêu và cuộc sống

Nhưng với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, trường ca “Lò mổ” không phải là tác phẩm u ám, đau thương và tuyệt vọng. Ông viết về nơi cái chết, sự tàn khốc hiện diện, nhưng ông lại ngợi ca sự sống và tình yêu, sự hồi sinh. Những con người, ở nơi tối tăm khốn cùng nhất của đời sống, họ vẫn muốn giữ thiện lương, tình yêu thương.

Ngay từ Chương mở đầu trường ca, khái niệm giữa Cái Đẹp và Cái Ác đã bị đánh tráo. Số phận của con bò bị giết và thân phận kẻ giết bò đều bị bứng ra khỏi gốc rễ của nó. Cả hai cùng bị kéo đến đúng tầm của chiếc búa máu kia vung lên.Con bò và gã đồ tể là hai nhân vật, hai cột trụ làm nên một thời đại, họ phải cùng nhau đi hết trường ca bi thương này. Ngoài hai nhân vật vừa nêu, còn một nhân vật nữa ám ảnh người đọc là gã Chủ lò mổ. Nhân vật này ẩn hiện như bóng ma từ những chương đầu, đến khi thân xác hắn thối rữa trong bầy giòi ở chương 16 “Phán xử”. Một số nhân vật khác nữa cũng mờ ảo và chìm trong tiếng vo ve của bầy ruồi khổng lồ…

Theo nhà thơ Mai Văn Phấn: “Chiếc búa máu ấy đã vung lên khai mở và kết thúc sự tồn tại của cái lò sát sinh, nơi con người, con vật cùng đồ vật bị hành hạ, bị hành quyết bởi những ảo ảnh, dục vọng, lòng tham, sự độc ác… Nhưng ở đây máu là vật kết dính, dòng chảy dẫn vào “Lò mổ”. Máu tuyệt nhiên không định làm lu mờ hay che khuất tầm mắt của người giết bò cũng như độc giả. Máu để ngỏ cho kẻ giết bò cũng như cho mỗi chúng ta nhìn thấy cái “Ô cửa mùa thu...” của sự sống. Kết thúc trường ca là hình ảnh chú bê con xuất hiện với trái tim rung vang như “Quả chuông lớn nhất thế gian”. Con bê đó đã đánh dấu chấm hết một thời đại, mở ra một thời đại mới, cuộc sống lại bắt đầu, tươi mới. Cái Đẹp đã đến thay thế cho Cái Ác”. Ông cho rằng, “Lò mổ” thực sự là một tuyệt bút trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Thiều.

Còn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng chiêm nghiệm: “Với trường ca “Lò mổ”, ta có thể “tìm thấy ở đó sức mạnh của chính mình, hồi phục từ chấn thương. “Đã có lúc chàng muốn chui vào tấm da bò/ Để bước đến nhận một nhát búa rung trên đỉnh đầu/ Như một cái hạt khổng lồ tách vỏ nổ vang/ Ánh sáng tràn ngập chàng”.

Nhà thơ Trần Lê Khánh cho rằng, “Lò mổ” là cuộc đi tìm cái đẹp trong cái chết: “Nguyễn Quang Thiều đã tự tạo ra một con đường độc đáo chưa có tiền lệ: tìm cái đẹp thuần khiết nhất trong cái chết của những con bò nơi lò mổ. Tôi có thể nói trường ca “Lò mổ” là một bản bi hùng ca không dành cho những người chưa chuẩn bị sẵn tâm thế để nhảy ra khỏi góc nhìn của mình. Nguyễn Quang Thiều đã lấy cái chết của con bò làm sự khởi đầu của bản Trường ca và kết thúc là một chú bê bé nhỏ. Phải chăng, đời sống của một con bò sẽ là bắt đầu từ một cái chết và kết thúc ở nơi chúng ta đã bắt đầu?”. Nhưng có lẽ, sâu xa hơn, trường ca “Lò mổ” là sự vật lộn của con người với chính bản ngã, trước câu hỏi “Đời sống của chúng ta có thực là đời sống”, một câu hỏi mà không phải ai cũng đặt ra và cũng không dễ tìm câu trả lời.

Vĩ thanh

Điều thú vị là mỗi chương trong “Lò mổ” được tượng trưng bằng một bức tranh, và tất cả đều mang tên “Nguyện cầu”. Đây là một cách nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện niềm mong mỏi của mình, trong thế giới đầy rẫy sự hủy hoại, con người vẫn giữ được lòng thương yêu, lòng bao dung và khát khao một đời sống yên bình. Các bức tranh đều là tranh khổ lớn, vẽ trên loại giấy đặc biệt của Pháp. Ông kết hợp nhiều chất liệu như màu nước, sơn dầu, acrylic, và chì để tạo nên sự hòa quyện riêng của cá nhân, từng lớp màu, từng mảng hình ảnh đậm chất tâm linh.

“Có thể nói rằng, “Nguyện cầu” không chỉ là một bộ tranh đi kèm với “Lò mổ”, mà chính là một phần sống động của tập trường ca này. Tôi muốn người đọc không chỉ nhìn tranh, mà còn cảm nhận được những suy tư mà tôi gửi gắm trong mỗi tác phẩm và hy vọng chúng sẽ mang đến cho độc giả những cảm nhận mới mẻ về nghệ thuật”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ.

Như tinh thần của những câu kết của bản trường ca “Lò mổ”: “Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên/ Một cái cây tự do làm thành cánh rừng/Một con cá tự do làm thành biển cả/Một con chim tự do làm thành bầu trời/Một con người tự do làm thành vũ trụ?....”.

Việt Linh

Các tin khác

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Sau những cánh cửa khép kín của Trung tâm Giám định ADN (Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hàng nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đang được giải mã bằng những công nghệ hiện đại nhất. Mỗi tín hiệu di truyền được phục hồi không chỉ là một kết quả khoa học, mà còn mở ra hy vọng đưa những người lính vô danh trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình sau hơn nửa thế kỷ đợi chờ.

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".