Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa ra mắt bạn đọc trường ca “Lò mổ”. Ông viết “Lò mổ” từ năm 2016, từ những ám ảnh của ông về lò mổ và những thân phận người. Và đến hôm nay, sau gần 10 năm, ông mới xuất bản trường ca này bằng cả bản tiếng Việt và tiếng Anh.

“Bản cáo trạng không nguôi về những sai trái của thế kỷ 20”

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói, ông hoàn thành trường ca này vào khoảng năm 2016, nhưng thực chất ý tưởng đã bắt đầu từ rất lâu, có lẽ là từ những năm tháng còn rất trẻ, khi ông cùng cha ghé qua lò mổ ở ngoại ô Hà Đông. Đó là lần đầu tiên trong đời ông tiếp xúc với một không gian u ám, tàn khốc, nơi chứng kiến cảnh giết chóc những con vật mà chính ông cũng cảm nhận được nỗi đau và nỗi sợ hãi của chúng.

Nhưng lò mổ không chỉ là nơi sự sống bị chấm dứt một cách đau đớn, mà nó còn là một “vũ trụ” của những thân phận con người đầy ám ảnh, những người sống ở rìa xã hội với công việc nặng nhọc, nguy hiểm. Từ những ám ảnh đó, ông đã viết xong trường ca này năm 2016, không sửa chữa bất cứ đoạn nào, chương nào cho đến tận bây giờ.

Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều -0
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tại buổi ra mắt trường ca “Lò mổ”. Ảnh: Duy Hiển.

“Trong cơn ác mộng của mình, tôi nhìn thấy những con bò xếp hàng, trò chuyện và bước tới để nhận cái chết. Tôi nghe thấy tiếng những con bò rống vang khi bị chọc tiết. Tôi nhìn thấy máu chảy xối xả, tôi nghe tiếng bầy ruồi đồng ca, tôi nhìn thấy linh hồn những con bò bay qua ô cửa sổ lò mổ về phía cánh đồng trên cao. Có gì đó đau đớn, bi thương, kỳ vĩ xuất hiện. Rồi tôi nhận ra đó là thi ca”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói về trường ca “Lò mổ”. Từ đó, hình ảnh lò mổ ám ảnh trong giấc mơ, trở thành biểu tượng cho một thực tại rộng lớn hơn, nơi con người cũng bị cuốn vào vòng xoáy khắc nghiệt của xã hội, nơi mà những thân phận thấp bé luôn bị đẩy về phía tận cùng của sự sống. Lò mổ ấy đã khơi dậy trong ông nhiều câu hỏi về sự sống và cái chết, về cách con người chúng ta đang tồn tại. Để sống, liệu chúng ta có đang đẩy người khác vào cảnh sống đọa đày, khốn khổ không?

“Tập trường ca này không chỉ là câu chuyện về quá khứ mà là hành trình tự vấn, đi tìm câu trả lời cho những trăn trở về ý nghĩa cuộc sống và sự tồn tại. Có lẽ tôi mong muốn, khi độc giả tiếp cận với “Lò mổ”, họ cũng sẽ dừng lại để suy ngẫm về con đường mà nhân loại đã và đang đi, để nhìn nhận lại cách chúng ta đối xử với nhau và với môi trường chung quanh”. Ông nói.

Nhà thơ Bruce Weigl (Mỹ) - người chuyển ngữ trường ca “Lò mổ” sang tiếng Anh đánh giá: “Tôi có được đặc quyền làm bạn và cộng tác về mặt văn học với Thiều hơn 30 năm qua, cũng như tiến triển tình bằng hữu giữa gia đình chúng tôi tại Mỹ và Việt Nam. Chỉ có sự thân thiết của tình bạn mới có thể giúp cho việc dịch bản trường ca phức tạp này được thành công. Trường ca là sự tượng trưng hình ảnh mạnh mẽ, và là bản cáo trạng không nguôi của những sai trái trong thế kỷ 20.

Trường ca này đại diện cho một cử chỉ thi ca can đảm vì nó tự lập về mặt tinh thần, nó từ chối đầu hàng những yêu cầu của truyền thống, và cho phép người đọc cảm nhận được thế giới trong hình thức gan góc nhất, sự thô sơ của sự thật thể hiện qua cách mà ta không thể bỏ qua. Trong 50 năm viết và suy nghĩ về thi ca, tôi chỉ dùng từ “kiệt tác” một vài lần, nhưng tôi dùng từ đó ở đây vì tôi tin vào sức mạnh của trưòng ca này và tôi tin là bạn cũng sẽ tìm được sức mạnh đó ở đây, và do đó tôi muốn bạn chú ý một cách thận trọng”.

Những triết lý trong “lò mổ” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều -0
Một tác phẩm trong bộ tranh “Nguyện cầu”.

Tiếng vọng của tình yêu và cuộc sống

Nhưng với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, trường ca “Lò mổ” không phải là tác phẩm u ám, đau thương và tuyệt vọng. Ông viết về nơi cái chết, sự tàn khốc hiện diện, nhưng ông lại ngợi ca sự sống và tình yêu, sự hồi sinh. Những con người, ở nơi tối tăm khốn cùng nhất của đời sống, họ vẫn muốn giữ thiện lương, tình yêu thương.

Ngay từ Chương mở đầu trường ca, khái niệm giữa Cái Đẹp và Cái Ác đã bị đánh tráo. Số phận của con bò bị giết và thân phận kẻ giết bò đều bị bứng ra khỏi gốc rễ của nó. Cả hai cùng bị kéo đến đúng tầm của chiếc búa máu kia vung lên.Con bò và gã đồ tể là hai nhân vật, hai cột trụ làm nên một thời đại, họ phải cùng nhau đi hết trường ca bi thương này. Ngoài hai nhân vật vừa nêu, còn một nhân vật nữa ám ảnh người đọc là gã Chủ lò mổ. Nhân vật này ẩn hiện như bóng ma từ những chương đầu, đến khi thân xác hắn thối rữa trong bầy giòi ở chương 16 “Phán xử”. Một số nhân vật khác nữa cũng mờ ảo và chìm trong tiếng vo ve của bầy ruồi khổng lồ…

Theo nhà thơ Mai Văn Phấn: “Chiếc búa máu ấy đã vung lên khai mở và kết thúc sự tồn tại của cái lò sát sinh, nơi con người, con vật cùng đồ vật bị hành hạ, bị hành quyết bởi những ảo ảnh, dục vọng, lòng tham, sự độc ác… Nhưng ở đây máu là vật kết dính, dòng chảy dẫn vào “Lò mổ”. Máu tuyệt nhiên không định làm lu mờ hay che khuất tầm mắt của người giết bò cũng như độc giả. Máu để ngỏ cho kẻ giết bò cũng như cho mỗi chúng ta nhìn thấy cái “Ô cửa mùa thu...” của sự sống. Kết thúc trường ca là hình ảnh chú bê con xuất hiện với trái tim rung vang như “Quả chuông lớn nhất thế gian”. Con bê đó đã đánh dấu chấm hết một thời đại, mở ra một thời đại mới, cuộc sống lại bắt đầu, tươi mới. Cái Đẹp đã đến thay thế cho Cái Ác”. Ông cho rằng, “Lò mổ” thực sự là một tuyệt bút trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Thiều.

Còn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng chiêm nghiệm: “Với trường ca “Lò mổ”, ta có thể “tìm thấy ở đó sức mạnh của chính mình, hồi phục từ chấn thương. “Đã có lúc chàng muốn chui vào tấm da bò/ Để bước đến nhận một nhát búa rung trên đỉnh đầu/ Như một cái hạt khổng lồ tách vỏ nổ vang/ Ánh sáng tràn ngập chàng”.

Nhà thơ Trần Lê Khánh cho rằng, “Lò mổ” là cuộc đi tìm cái đẹp trong cái chết: “Nguyễn Quang Thiều đã tự tạo ra một con đường độc đáo chưa có tiền lệ: tìm cái đẹp thuần khiết nhất trong cái chết của những con bò nơi lò mổ. Tôi có thể nói trường ca “Lò mổ” là một bản bi hùng ca không dành cho những người chưa chuẩn bị sẵn tâm thế để nhảy ra khỏi góc nhìn của mình. Nguyễn Quang Thiều đã lấy cái chết của con bò làm sự khởi đầu của bản Trường ca và kết thúc là một chú bê bé nhỏ. Phải chăng, đời sống của một con bò sẽ là bắt đầu từ một cái chết và kết thúc ở nơi chúng ta đã bắt đầu?”. Nhưng có lẽ, sâu xa hơn, trường ca “Lò mổ” là sự vật lộn của con người với chính bản ngã, trước câu hỏi “Đời sống của chúng ta có thực là đời sống”, một câu hỏi mà không phải ai cũng đặt ra và cũng không dễ tìm câu trả lời.

Vĩ thanh

Điều thú vị là mỗi chương trong “Lò mổ” được tượng trưng bằng một bức tranh, và tất cả đều mang tên “Nguyện cầu”. Đây là một cách nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thể hiện niềm mong mỏi của mình, trong thế giới đầy rẫy sự hủy hoại, con người vẫn giữ được lòng thương yêu, lòng bao dung và khát khao một đời sống yên bình. Các bức tranh đều là tranh khổ lớn, vẽ trên loại giấy đặc biệt của Pháp. Ông kết hợp nhiều chất liệu như màu nước, sơn dầu, acrylic, và chì để tạo nên sự hòa quyện riêng của cá nhân, từng lớp màu, từng mảng hình ảnh đậm chất tâm linh.

“Có thể nói rằng, “Nguyện cầu” không chỉ là một bộ tranh đi kèm với “Lò mổ”, mà chính là một phần sống động của tập trường ca này. Tôi muốn người đọc không chỉ nhìn tranh, mà còn cảm nhận được những suy tư mà tôi gửi gắm trong mỗi tác phẩm và hy vọng chúng sẽ mang đến cho độc giả những cảm nhận mới mẻ về nghệ thuật”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chia sẻ.

Như tinh thần của những câu kết của bản trường ca “Lò mổ”: “Một ngọn cỏ tự do làm thành thảo nguyên/ Một cái cây tự do làm thành cánh rừng/Một con cá tự do làm thành biển cả/Một con chim tự do làm thành bầu trời/Một con người tự do làm thành vũ trụ?....”.

Việt Linh

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?