Gieo chữ nơi lõi rừng Pù Mát

Chuyến công tác vào huyện Con Cuông, Nghệ An của chúng tôi vừa kết thúc ít ngày thì cơn bão số 4 ập đến vùng đất này. Nghe tin bão, điều chúng tôi trăn trở nhất là bản Cò Phạt và bản Búng thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông - hai chấm nhỏ xíu có sự tồn tại của con người nơi rừng sâu Pù Mát sẽ ra sao.

“Hai bản ở sâu trong rừng, chìm trong biển nước, điểm trường bị chia cắt, các cô giáo không còn chỗ trú chân, phải đến ở nhờ nhà dân. Điện mất, nước dâng, họ kẹt giữa bốn bề nước, không thức ăn, không nước uống. Thời điểm đó, tôi đã khóc vì thương các thầy, cô giáo của trường mình, vì bất lực không thể làm gì cho họ. Hội nghị công nhân viên chức của trường, chúng tôi lặng lẽ, không một bữa cơm liên hoan, cả trường dồn chút tiền ít ỏi để hỗ trợ các đồng nghiệp ở bản sâu”, cô Võ Thị Hồng Long - Hiệu trưởng Trường Tiểu học 2 Môn Sơn thông tin với chúng tôi như thế.

Trường lớp có, chỉ lo các em không đi học

Ngược sông Giăng mùa lũ nước cuồn cuộn, đoàn công tác chúng tôi vào bản Cò Phạt - điểm bản về địa giới hành chính thì thuộc xã Môn Sơn nhưng vị trí địa lý lại nằm tít trong lõi vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông. Sau gần 2 giờ đồng hồ, thuyền cũng chạm bến nước là một bờ đất thoai thoải dẫn lên bản Cò Phạt. Một cảm giác sâu hun hút, xa vời vợi, bản Cò Phạt thực sự là một ốc đảo hoàn toàn tách biệt với phần còn lại của huyện Con Cuông. Một câu hỏi dấy lên trong lòng tôi, làm sao các cô giáo có thể cần mẫn, dũng cảm đến vậy khi hằng tuần vượt quãng đường xa xôi và khúc khuỷu vào nơi thâm sơn cùng cốc này gieo con chữ?

Gieo chữ nơi lõi rừng Pù Mát -0
Lớp 1D của cô giáo Lương Thị Chín ở điểm trường Cò Phạt nằm sâu trong lõi rừng Pù Mát.

Điểm trường Cò Phạt nằm giữa bản, lọt thỏm giữa bốn bề rừng núi. 5 lớp học từ lớp 1 đến lớp 5, tổng số 63 học sinh cùng 5 cô giáo cũng lọt thỏm trong khuôn viên trường tương đối rộng rãi. Khi chúng tôi đến, các em đang giờ ra chơi. Khoảng sân rộng, một nửa người dân trong bản tận dụng để phơi thóc, một nửa để các em chạy nhảy, nô đùa. Lớp 1D của cô giáo Lương Thị Chín có sĩ số 10 em, ít nhất trong 5 lớp tiểu học, nhưng hôm ấy, chỉ có 9 em đến lớp.

“Lớp có một em học sinh ở bên kia sông, hôm nào nước cạn thì mới đi học được. Hôm nào nước to thì đành nghỉ học. Trường có, lớp có, cô giáo vào tận nơi, chỉ lo các em không đến được trường thôi”, giọng cô Chín trầm buồn.

Trường Tiểu học 2 Môn Sơn có 37 cán bộ giáo viên, công nhân viên thì có đến 10 thầy, cô giáo phải dạy học trong rừng. Ở Cò Phạt, người dân đều thuộc tộc người Đan Lai và đều là hộ nghèo. Cô giáo Võ Thị Hồng Long - Hiệu trưởng mỗi tuần sẽ vào một điểm trường để nắm bắt tình hình dạy và học của cô và trò. Còn các cô giáo đứng lớp thì ở lại điểm trường cả tuần, chỉ ngày nghỉ mới về với gia đình. Không những thế, cô Long phải sắp xếp linh hoạt cho các giáo viên âm nhạc, tin học, tiếng Anh, mĩ thuật hằng tuần vào dạy các em.

Cứ sau một tháng, cô lại quay trở lại điểm trường Cò Phạt. Có lần đi xuồng máy ngược sông Giăng, mất khoảng 2 giờ đồng hồ mới tới nơi. Đi xe máy thì vất vả hơn nhiều. Nhất là sau đợt lũ vừa rồi, những con đường đã hoàn toàn mất dấu, nhìn đâu cũng chỉ thấy đất cát, sình lầy. Mưa lũ không chỉ làm đứt gãy hoàn toàn tuyến giao thông huyết mạch, mà gây mất điện kéo dài cả tháng trời ở bản Búng. Nước to, không thể đi lại được, các thầy cô ở bản Cò Phạt và bản Búng đều phải ở trong bản 2-3 tuần. Những bữa ăn cũng xoay xở một cách khó khăn. Các cô phải đi bắt ốc để nấu bữa, đi xin từng quả đu đủ của người dân để làm rau xanh. Điện mới chỉ được nối lại cách đây vài ngày.

Gieo chữ nơi lõi rừng Pù Mát -0
Các cô giáo vất vả vượt đường vào điểm trường Cò Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông.

Ngay cạnh Trường Tiểu học 2 Môn Sơn là Trường Mầm non Môn Sơn 2, chỉ cách nhau một tấm lưới sắt. Nói là trường nhưng thực ra chỉ có duy nhất một lớp ghép 23 cháu từ 3-5 tuổi. Cô giáo Trần Thị Kim Anh phụ trách lớp học này. Cô Kim Anh bảo với chúng tôi rằng người Đan Lai ở Cò Phạt có nếp sống riêng.

Một ngày họ ăn 2 bữa lúc 8 giờ sáng và 5 giờ chiều. Do vậy, buổi trưa các con đi học về thường không có cơm ăn. Cô chỉ mong tới đây nguồn nước sinh hoạt tại điểm trường ổn định, cô sẽ tổ chức cho các con ăn cơm bán trú dân nuôi. Bố mẹ sẽ chuẩn bị cơm ở nhà cho các con mang đi. Đến lớp, cô sẽ vừa dạy, vừa kiêm luôn việc dọn rửa, chăm sóc các con.

Dân không đi, cô giáo phải vào

Sao người dân lại có thể ở tít trong rừng sâu, sao họ không tịnh tiến về trung tâm xã để đi lại đỡ khó khăn, để được tiếp xúc với đời sống văn minh? Chúng tôi cứ thắc mắc như thế trên đường vào Cò Phạt. Nhưng, nào có đơn giản thế. Bởi toàn bộ người dân ở Cò Phạt là tộc người Đan Lai, bao nhiêu năm qua họ quen sống tách biệt trong rừng sâu. Từ năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển bền vững tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại vùng lõi vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An". UBND huyện Con Cuông cùng các ban, ngành đã bố trí các điểm tái định cư cho bà con Đan Lai, đầu tư cơ sở hạ tầng cho các hộ tại bản Cò Phạt, bản Búng, xã Môn Sơn. Tuy thế, việc rời bỏ bản làng với bà con quả không hề đơn giản.

Những nuối tiếc, băn khoăn, dè dặt dấy lên. Thế nên, có hộ đã di dời, có hộ vẫn bám trụ lại với rừng núi, sông suối. Cuộc sống dù nghèo khó, tối tăm nhưng họ quen rồi. Vẫn còn gần 500 người Đan Lai sống trong hơn 100 nóc nhà trong rừng sâu. Người dân không rời đi, lũ trẻ vẫn ở sâu trong rừng, vậy là các cô giáo không còn cách nào khác là phải vào với các em. Mà đã vào điểm trường rồi thì dù cuộc sống khó khăn, vất vả là thế, song chưa ai nỡ bỏ mảnh đất này mà đi. Những đứa trẻ Đan Lai khát chữ chính là động lực giữ chân họ, tận tụy gieo những hạt mầm hi vọng cho nơi đây. Cô giáo Hà Thị Thu Giang - giáo viên dạy lớp 4, là cụm trưởng điểm trường Cò Phạt chỉ cho tôi con đường các cô đi hằng tuần. Đó là con đường đất nhỏ, dốc đứng vắt qua vách núi, chỉ nhìn thôi tôi đã thấy rùng mình.

Gieo chữ nơi lõi rừng Pù Mát -0
Cô giáo Hà Thị Thu Giang bị ngã xe trên đường vào điểm trường Cò Phạt.

Nhà cô giáo Giang ở ngoài trung tâm xã Môn Sơn, cách điểm trường gần 18 km. Năm nay là năm thứ 3 cô Giang vào bản Cò Phạt dạy học. 3 năm, không biết đã bao nhiêu lần vật vã vượt quãng đường rừng hoang vắng để vào trường. Không thể đi một mình, các cô hẹn nhau đi cả nhóm. 6 cô 6 chiếc xe máy, có đoạn nổ máy đi được, có đoạn dắt xe đi bộ, có đoạn hò nhau đẩy xe lên dốc hoặc ghìm xe xuống dốc. Dọc đường, các cô phải dừng lại kê từng hòn đá để đưa xe qua. Hôm nào thuận lợi thì sau 2 tiếng cũng vào đến điểm trường. Vào bản, các cô phải chở theo gạo, thức ăn, quần áo, sách vở. Những hôm trời mưa thì thật là cơ cực. Bánh xe bết bùn đất, trời mưa nên trơn trượt, không thể di chuyển, chỉ còn cách nhấc bánh sau lên và đẩy lên đỉnh dốc, sau đó lấy que chòi đất ra. Có hôm hỏng xe giữa đường, phải dừng lại đợi người vào sửa, khóc không được mà cười cũng chẳng xong.

3 năm rồi mà có những lúc cô Giang vẫn chưa thể quen, vẫn thấy ngợp, thấy lo sợ khi dò dẫm đi xe trên con đường bé tí và dốc đứng, một bên là vực sâu. Sau lũ, đường biến mất, tần suất ngã xe tăng lên, mỗi lần ra vào điểm trường, cô giáo thực sự mất sức.

Một tuần, sau cuộc đi, chưa kịp hồi sức thì đã phải lên đường. Có lúc xe lên dốc nhưng đường trơn nên cả người cả xe cứ thế trượt xuống. Cực quá, nản quá, cô Giang chỉ muốn buông xuôi. Nhưng, nghĩ đến học sinh đang chờ mình nên lại cố gắng lần đường mà đi. Để có đường đến trường mà không phải bơi, phải cõng xe qua sông, không ít lần các cô bỏ tiền lương cùng góp với dân bản làm cầu.

Ở Cò Phạt, các con thiếu thốn đủ thứ, thành ra các cô không chỉ dạy dỗ mà lo cho các con như người mẹ. Cứ đầu năm học, các cô lại bỏ tiền ra mua toàn bộ sách vở, đồ dùng học tập cho học trò, dần dần tạo nếp đi học đều đặn cho các em. Mỗi chiều, sau giờ dạy, các cô thường theo chân các trò về gia đình để hiểu hoàn cảnh của học sinh, vận động phụ huynh tạo điều kiện cho con cái học hành, tập thói quen cho học sinh học tối. Sau giờ ăn tối, thay vì nghỉ ngơi, các cô lại lên lớp kèm thêm cho các con. Bởi thế, bản nhỏ Cò Phạt, buổi tối đến, điểm trường có lẽ là nơi sáng nhất và rộn rã nhất vì những lớp học vẫn diễn ra. 6 cô giáo ở điểm trường Cò Phạt ngoài giờ lên lớp thì sống gắn bó trong khu nhà ở giáo viên như chị em một nhà. Biết bao nhiêu là kỉ niệm chia sẻ cùng nhau dưới tán rừng buồn lặng. Nhớ nhất những khi mưa lũ, khu nhà bị dột, các cô không có chỗ ngủ, suốt đêm ngồi nghe tiếng mưa. Cuộc sống ở nơi thâm sơn cùng cốc, những giọt nước cũng khan hiếm, những luống rau cũng cằn cỗi vì đất cằn sỏi đá, con người cũng vì thế mà cằn lại.

Cô Giang bảo với chúng tôi, ở Cò Phạt, các em học sinh tiểu học đã được đi học đủ, nhưng khi lên cấp 2 thì vẫn có hơn 10 em không thể ra trung tâm xã học vì quãng đường quá xa xôi, cách trở, gia cảnh các em hết sức khó khăn.

Bởi thế, các thầy cô càng phải bám bản, để trở thành cầu nối ốc đảo Cò Phạt với cuộc sống văn minh. Các cô giáo ngày ngày bám bản với một niềm mong mỏi những đứa trẻ Đan Lai sẽ đọc thông viết thạo, lớn lên biết làm ăn, xây dựng bản làng. Cuộc sống của các em sẽ không còn bị cái đói rình rập, không còn nạn tảo hôn, không còn những cuộc hôn nhân cận huyết thống. Để có được viễn cảnh ấy thì từng ngày từng giờ, những người thầy người cô vẫn phải miệt mài gieo chữ nơi lõi rừng heo hút.

H. Châm – T. Thảo

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?