Bớt đồng thì bớt cù lao

“Bớt đồng thì bớt cù lao

Bớt ăn bớt mặc thì tao bớt làm”.

Câu này, còn có dị bản như “bớt ăn, bớt uống, bớt tiền, bớt gạo” nhưng nghĩa vẫn không thay đổi. Câu chuyện cần bàn ở đây vẫn là lúc đặt câu hỏi: “cù lao” trong ngữ cảnh này là gì? Liệu có liên quan gì đến cù lao đã được sử dụng trong truyện ngắn “Bên rừng Cù lao Dung” của nhà văn Sơn Nam?

Về Cù lao Dung, nhà văn Sơn Nam cho biết nằm giữa sông Hậu: “Một cù lao to, từ thời Gia Long đã chia thành 2 xã, đọc sử thấy ghi là Hổ châu, theo nghĩa cù lao có cọp ở. Người Khơme gọi là Kok Tung, theo nghĩa cù lao này là sào huyệt của loại chim thằng bè”.

Đại khái, cù lao là vùng đất nổi lên giữa biển khơi do phù sa bồi đắp; tương tự cồn cũng nổi giữa biển, sông lớn chỗ giáp nước do vun bồi của phù sa nhưng nhỏ hơn cù lao, và cũng tùy trường hợp cụ thể, thí dụ, đó là chỗ cát tụ thành đụn lớn ven biển ngày càng lấn vào đất liền.

Bớt đồng thì bớt cù lao -0
Đại hồng chung tại chùa Thiên Mụ (Huế). Ảnh tư liệu.

Xét ra, cù lao hiểu theo nghĩa này không thể áp dụng cho câu ca dao trên.

Nhà văn Phạm Minh Hòa viết trong truyện ngắn “Cứ, một lớp học kỳ diệu”, đoạn kể về cách nuôi cá lia thia, có câu: “Phải chọn cái chai có đáy bằng chứ có cù lao thì đựng cá không đẹp”. “Cứ” là gọi tắt từ “căn cứ” nhằm chỉ nơi trú quân của quân giải phóng thời kháng chiến. “Cù lao” ở đây là từ nhằm chỉ phần lồi lên ở đáy chai. Không những thế, ta còn tìm thấy trong ca dao hoặc các áng thơ văn như: “Duyên hội ngộ, đức cù lao/ Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn?” (Truyện Kiều)…  Dù có lúc không nhắc tới như: “Thấy trong chín chữ trời cao ngất/ Chạnh nỗi đôi phương ruột héo hon” (Hồng Đức quốc âm) nhưng ta vẫn biết “chín chữ” ấy là nói tắt của “chín chữ cù lao”: 1. Sinh (sinh đẻ), 2. Cúc (nâng đỡ), 3. Phủ (ve vuốt, vỗ về), 4. Xúc (nuôi cho bú mớm), 5. Trưởng (nuôi cho khôn lớn), 6. Dục (dạy dỗ); 7. Cố (trông nom), 8. Phục (tùy tính tình mà dạy bảo), 9. Phúc (bảo vệ, che chở). Câu thơ trong “Lục Vân Tiên” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã khái quát về ơn nghĩa của đấng sinh thành:

Đội ơn chín chữ cù lao

Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình

Vậy, chẳng lẽ: “Bớt đồng thì bớt cù lao/ Bớt ăn bớt mặc thì tao bớt làm” là thái độ trả giá, ra giá của đứa con đối với công đức của cha mẹ, ra điều kiện nếu thế này sẽ dẫn tới thế kia, đã thế lại dùng từ “tao” rất lếu láo, hỗn xược, không thể chấp nhận. Nếu thế, câu ca dao này không có gì để bàn, chỉ đáng ném sọt rác.

Rắc rối thiệt.

Thôi thì, ta tạm thời giải lao đôi lát, rủ nhau đi làm cái lẩu thập cẩm cho tỉnh táo, tươi tỉnh rồi tìm hiểu tiếp. Về cách ăn món này, trong tác phẩm “Sài Gòn tạp pín lù” (NXB Hội Nhà văn - 1900), nhà văn hóa Vương Hồng Sển giải thích rành rọt: “Tạp pín lù, là "đả biên lô", tức là món ăn nấu chín gần bên lò lửa; cũng như "ăn sán lẩu" là ăn thịt sống nhúng vào nước sôi bắt trên lò lửa nóng. Số là người Tây bày ra một từ khí làm bằng chì, thiếc, vật kim khí có chân cao giữa khoét lỗ đặt vài cục than cháy, chung quanh là nồi chứa nước thịt ngọt, khách ăn tự lựa từng món ngon: mề gà, lòng heo, ruột già, ruột non, dồi trường, tự gắp bằng đũa và nhúng vào nước thịt đang sôi, rồi tự gấp qua chén và, không cần biết món nhúng đã chín hay còn sống sượng. Rồi thì rượu cay, rau sống ngốn nghiến chàm ngoàm cả miệng không thốt ra lời được, món ăn ấy gọi "ăn sán lẩu", dịch ra Hán tự là “sán sanh” (thức ăn còn sống, chưa chín), "lẩu": lò (lô). Ăn “sanh lô”, nhưng nếu nói "sanh lô" ba Tàu không hiểu, phải nói theo họ "ăn sản lẩu", hoặc ăn "cù lao" vân vân” (tr.5). Khi ăn với nhiều thứ nhúng vào đó, ta gọi là “tạp pín lù”, là cái lẩu/ cái cù lao thập cẩm.

Qua cách giải thích trên, ta đã hình dùng ra cái cù lao lúc ăn lẩu. Vậy, có thể khi vào quán, do không đủ tiền nên đành “bớt đồng” bằng cách bỏ bớt/ không gọi món cù lao? Nếu thế, người Việt không nói lọng ngọng lịu nghịu thế mà nói “bớt tiền”. Suy ra “đồng” trong câu ca dao “Bớt đồng thì bớt cù lao” không phải đồng tiền. Vậy, đồng ở đây là gì? Ta hãy quay ngược về xứ Huế vào thời điểm trước thế kỷ XX để nghe lại câu ca dao:

Kinh Nhơn, Bản Bộ, Trường Đồng

Ba o con gái góa chồng cả ba

Có thật là họ góa chồng? Nhầm chết. Những địa danh nêu trên cho biết đó là những làng nghề truyền thống đúc chuông ở Huế. Muốn đúc chuông thì phải có đồng, vì thế hằng ngay họ phải đi thu mua những sản phẩm hư hỏng, vứt bỏ từ làng này qua làng nọ, không loại trừ khả năng có kẻ lấy trộm, ăn cắp đồ đồng của nhà nước, mua bán loại phi pháp này, luât pháp thời nào cũng ngiêm cấm. Vì thế, các o đi buôn, đi thu mua đồng nát thường làm sẵn tờ “chồng để” (giấy ly hôn) dự phòng nếu bị bắt không liên lụy đến chồng con, hơn nữa người ta cũng dễ xót thương cho hoàn cảnh mà phạt nới tay.

Khi thu mua đồng từ hang cùng ngõ hẻm, họ đem về bán lại cho lò đúc, ở đó sản xuất ra nhiều sản phẩm, trong đó chuông đồng. Với nghề này, nếu không phải dân trong nghề, khi đến lò đúc, chúng ta sẽ ngắc ngứ khi nghe họ trao đổi về chuyên môn, thiết tưởng cũng cần phải học để biết, âu cũng là một cách làm giàu thêm vốn từ.

Căn cứ vào cuốn “Biên khảo Huế - nghề và làng nghề thủ công truyền thống” (NXB Thuận Hóa-1994) của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông, tôi tạm thời góp nhặt lấy vài từ chuyên môn có thể nhiều người chưa biết, thí dụ, khi đúc ra sản phẩm nào đó trăm cái như một hoặc làm theo mẫu khách hàng đem tới, gọi là “cái rập”. Sản phẩm đúc ra lành lặn, trong rạn, không nứt, gọi là “troại” là phát âm của “trọi”. Trọi chính là trụi, tức sản phẩm đó hoàn hảo, không có chút tẹo tèo teo gì khiếm khuyết.

Khi sử dụng đất sét còn dẻo, người ta áp vào khuôn mẫu để tạo nên sản phẩm rồi đem phơi khô - giống hệt sản phẩm mà người thợ muốn đúc nó bằng đồng, gọi là “giáp khuôn” hay “cốt khuôn”. Về khuôn đúc có các từ “khuôn nặn” hay còn gọi “khuôn sống” làm bằng đất sét vàng. Loại khuôn này, có thể đập bỏ sau khi đúc nếu sản phẩm đó có nhiều chi tiết phức tạp, người thợ không thể ngồi gỡ từng mảng khuôn ra khỏi sản phẩm để sử dụng lại, Trong khi đó, “khuôn chín” hay “khuôn bền” làm bằng đất sét trắng lại khác, là sử dụng nhiều lần sau khi lấy sản phẩm ra khỏi khuôn, thường dùng làm khuôn đúc sản phẩm lớn như vạc, đỉnh, súng thần công, đại hồng chung (chuông lớn)…

Nếu người phụ nữ khi sinh nở được “mẹ tròn con vuông” là quá đỗi kỳ diệu, tuyệt vời hạnh phúc thì dân thợ đúc có câu “Đúc một lửa trọi” là đúc một lần mà suôn sẻ, hoàn hảo đâu ra đó. Sản phẩm đó cũng có bì, cốt, thịt. “Bì” là khuôn ngoài, “cốt” là khuôn trong, “thịt” là khuôn hở mà kim loại nóng chảy sẽ lấp đầy tạo nên sản phẩm.

Theo dân trong nghề, nghệ thuật đúc chuông đồng quan trọng nhất còn là cái cù lao, vì thế, ca dao có câu: “Bây giờ tính nghĩ làm sao/ Cho chuông ấm tiếng cù lao vững vàng”. Cù lao là bộ phận gì trong cái chuông?  Theo “Việt Nam tự điển” (1931): “Cái quai trên đầu quả chuông”, từ cái quai này, người ta còn dùng để treo chuông lên, thế nhưng khi đúc chuông mà bớt cù lao thì gay go quá. Thật ra, dù ông chủ dẫu làm ăn gian dối, có ăn bớt, ăn xén bằng cách “bớt đồng” tức chất liệu đồng đi nữa; hoặc đối xử không ra gì với thợ thầy như “bớt ăn, bớt mặc” thì cuối cùng họ cũng đúc chuông mà cái chuông đó cũng có cù lao như thường.

Tại sao như thế?

Vì rằng, câu ca dao này đã lợi dụng sự đồng âm để hiểu qua hai nghĩa: Nếu “bớt đồng”, không đủ chất liệu đồng thì bớt cái cù lao, hiểu như thế không sai nhưng cù lao còn là từ trùng âm với cần lao, cần cù, lao tâm, lao lực; “đồng” trùng âm với đồng tiền. Vậy, nếu “bớt đồng” là bớt đồng tiền trả công thì họ cũng làm nhưng chỉ qua loa, chứ không tận tâm tận lực: “Bớt đồng thì bớt cù lao”. Câu lục bát này thuộc thể tỷ, vì thế ở câu sau cũng dẫn đến sự so sánh: “Bớt ăn bớt mặc thì tao bớt làm”. Kết hợp cả hai câu là một sự nhất quán, thể hiện thái độ phản ứng trước tình huống cụ thể có thể đã/ đang/ sẽ xảy ra. Họ nói lắt léo bằng cách vận dụng các từ liên quan đến nghề của mình, khó có thể bắt bẻ bởi sự đồng âm, tùy theo cách hiểu của người nghe.

Này, xin hỏi thêm, cơn cớ gì cái quai trên đầu quả chuông, lại gọi cù lao? Đơn giản chỉ vì người ta nói trại của từ “bồ lao”.

Mà, bồ lao là gì thế?

“Tên một loài thú, có thuyết bảo là một loài chim cực lớn, thường đánh nhau với cá kình ngoài biển để giành mồi, mỗi lần đánh nhau thì chim bồ lao kêu vang động một vùng. Vì vậy về sau người ta đúc hoặc khắc hình chim bồ lao ở chuông, và khắc hình cá kình ở dùi đánh chuông, mong cho tiếng chuông đánh lên sẽ vang xa như tiếng kêu của chim bồ lao khi đánh nhau với cá kình”, “Hán - Việt tân từ điển” của Nguyễn Quốc Hùng giải thích.

Có thể do không nhìn thấy cũng như không rõ về ý nghĩa của hình ảnh con chim bồ lao trong nghệ thuật đúc chuông, do đó, người ta bèn gọi cù lao là từ quen thuộc đã có sẵn(?).

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?