Xung quanh tập thơ “Bức tranh quê”

Tập thơ "Bức tranh quê" là tác phẩm đầu tay của nhà thơ Anh Thơ (1918-2005) do Nhà xuất bản Đời Nay in năm 1941, sau khi "Bức tranh quê" được giải khuyến khích của Tự lực Văn đoàn năm 1939, cùng với tập "Nghẹn ngào" của nhà thơ Tế Hanh (1921-2009).

1.Theo xác nhận của chính nhà thơ Anh Thơ cùng nhiều nhà nghiên cứu khác như tác giả "Thi nhân Việt Nam, 1932-1941" là Hoài Thanh (và Hoài Chân) đều khẳng định: "Bức tranh quê" được "giải khuyến khích". Trong quyển "Những sự kiện văn học Việt Nam (từ 1865 đến 1945)", Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2012, Phó Giáo sư - tiến sĩ Vũ Tuấn Anh lại cho "Bức tranh quê" được "giải Chính thức". Không rõ, anh căn cứ vào tư liệu nào?

Tập thơ "Bức tranh quê" (khi gửi dự giải thưởng) vốn có 30 bài, bài nào cũng 12 câu; như tác giả và Tự lực Văn đoàn khẳng định. Nhưng trong quyển "Thơ Mới - tác giả và tác phẩm" của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1999, in "Bức tranh quê" và ghi rõ: Nhà xuất bản Đời nay, 1941, "văn bản do tác giả cung cấp", lại thấy có đến 45 bài. Chắc là do nhà thơ Anh Thơ mới thêm vào 15 bài để in, sau khi được tặng giải (lẽ ra, để các nhà nghiên cứu và người đọc tiện theo dõi, người làm sách phải nêu rõ chuyện này).

Theo nhà thơ Anh Thơ, hồi ấy, khi thể lệ cuộc thi văn thơ của Tự lực Văn đoàn đến tay bà thì chỉ còn một tháng nữa là hết hạn nhận tác phẩm. Bà phải tìm cách trốn tránh người cha vốn thành kiến nặng với việc con gái làm thơ, để viết cho nhanh, cho đủ 30 bài. Không lâu sau, bà nhận được giấy của tòa soạn Báo Ngày Nay cho biết bà đã được giải khuyến khích, và trong bài nhận xét Tự lực Văn đoàn đánh giá hai tập "Bức tranh quê" và "Nghẹn ngào" là "ngang nhau", nhưng "để khuyến khích phụ nữ", bà được mời về Hà Nội dự tiệc trà và lĩnh thưởng.

Người tiếp nhà thơ Anh Thơ ngay lúc bước vào tòa soạn báo Ngày Nay là nhà thơ Thế Lữ và nhà thơ Tú Mỡ. Nhà thơ Thế Lữ đưa nhà thơ trẻ đến ngồi trước lò sưởi, trước mắt có đĩa bánh nổi hàng chữ bằng kem xanh: "Nữ sĩ Anh Thơ".

Nữ sĩ Anh Thơ và bìa tập thơ Bức tranh quê.
Nữ sĩ Anh Thơ và bìa tập thơ Bức tranh quê.

Cuối buổi lễ trao giải, nhà thơ Tú Mỡ trao cho tác giả "Bức tranh quê" phong bì đựng 30 đồng tiền thưởng. Không rõ nó tương đương với bao nhiêu tiền bây giờ, nhưng số tiền đủ để tác giả mua cho bà của mình một ống giã trầu; cho bố một cặp da, cho mỗi đứa em một chiếc mũ, cho "nàng hầu của bố" một chiếc ví tay, chị sen giúp việc một chiếc quần láng, còn chính tác giả thì một bộ cánh tân thời bằng lụa trắng.

2.Hồi bấy giờ, trên công luận, có hai bài đánh giá "Bức tranh quê" kỹ lưỡng. Một bài của tác giả "Thi nhân Việt Nam..." nói trên. Quyển sách này, hơn bảy chục năm nay được in đi in lại nhiều lần, bài ấy dễ tìm. Còn một bài khác, ít người biết, là bài của Tự lực Văn đoàn viết trước bài của "Thi nhân Việt Nam..." đăng trên báo Ngày Nay số 200, ra ngày 25-5-1941.

Trong khi chưa tìm được tờ báo ấy, tôi dựng lại bài nhận xét này qua những đoạn được nhà thơ Anh Thơ ghi lại trong quyển hồi ký "Từ bến sông Thương", Nhà xuất bản Văn học, 1986. Ở mỗi đoạn, tác giả "Bức tranh quê" có xen vào cảm nghĩ của mình, tôi không dẫn ra đây.

Điều đáng lưu ý là, Tự lực Văn đoàn nhận xét, đánh giá thẳng thắn, khách quan và khá chính xác về những bài thơ của một cô gái quê trẻ tuổi, và người viết bài nhận xét lại là Nhất Linh, nhà văn chuyên viết văn xuôi, chứ không phải một nhà thơ hay một nhà phê bình. Tôi giữ nguyên văn và cách viết của Nhất Linh cách đây gần 80 năm. Không biết nhà thơ Anh Thơ ghi lại có hoàn toàn chính xác không, có lược bỏ đoạn nào không:

"Bức tranh quê của cô Anh Thơ là một tâp hợp ba mươi bài thơ. Bài nào cũng mười hai câu. Tác giả tả cảnh thôn quê từ đầu năm cho đến Tết. Mùa nọ sang mùa kia. Tác giả nhất định tả cảnh theo thời tiết, nhất định dùng một thể thơ giống nhau. Tự đặt mình vào con đường khó khăn, hình như cốt để tỏ rõ sự tài tình và khéo léo của mình. Lối ấy chỉ làm cho tập thơ kém vẻ linh hoạt, thành ra nặng nề, uể oải, từ đầu đến cuối cứ đều đều một giọng.

"Bức tranh quê" có một vẻ mới trong thi ca Việt Nam: là tác giả đứng về mặt khách quan, suốt tập không bao giờ nói đến mình, không dùng chữ "tôi" nào.

Tác giả đứng ngoài nhận xét, rồi từ từ ghi lên giấy, hình như không chút cảm động nào.

Những nhận xét của cô Anh Thơ rất đúng. Có khi đúng đến nỗi làm người ta phải ngạc nhiên và chịu phục. Tả cảnh mưa, cô viết:

Tre lả lướt nghiêng mình cho nước gội
Cau thẳng mình dang lá đón mưa rơi
Đồng chìm xuống bông lúa vàng rũ rượi
Ao dềnh lên bè rau muống xanh tươi.

Trong bài "Chợ mùa hè" có hai câu tỏ rõ tài nhận xét của cô Anh Thơ đến cực điểm:

Chó le lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng
Lợn trói nằm hồng hộc thở căng giây.

Trong bài "Sáng hè":

Gió man mát bờ tre rung tiếng sẻ,
Trời hồng hồng đáy nước lắng son mây.
Làn khói xám từ nóc nhà lặng lẽ
Vươn mình lên như tỉnh giấc mê say

Cũng cảnh khói ở nóc nhà bay lên, nhưng về mùa thu, sau khi mưa, cô lại tả khác và rất đúng:

Khói nặng nề tìm gió, vẩn vơ ra.

Tả cảnh sang thu:

Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác
Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay

Và còn bao nhiêu cảnh khác, khi cần đến sự nhận xét thì mắt cô không lầm bao giờ, lại thấy cả cái rất tinh vi, người khác không thấy:

...Mưa lao mình qua những cánh buồm căng
...Trong sương mù chèo động sóng lung linh

Tả mấy ông thầy bói đi trong chợ ồn ào:

Lặng lẽ nhất có vài người thầy bói
Bước gậy lần như những bước chiêm bao

Cả đến "Bến đò ngày phiên chợ", cô cũng nhìn bằng con mắt Tây phương:

Thuyền ghé bến, người người chen chúc xuống
Tiếng chó kêu, lợn hét, nổi vang lừng
Với tiếng người ồn lên trong luống cuống
Đặt gánh gồng bồ bịch đổ lung tung

Nhưng cô Anh Thơ thiếu một cái rất cần với thi sĩ. Thơ cô tả cái gì thì chỉ có cái ấy thôi, không gợi cho người đọc cái mung lung. Một câu thơ không phải chỉ là cái định tả trong thơ, nhưng ở trong thơ còn có cả một thế giới khác không có liên can gì đến câu thơ. Đọc thơ mỗi người lại cảm thấy khác nhau.

Cái tiếng vang ở cảnh núi, nó làm ta nghĩ đến cái rộng rãi của không gian, thơ cô Anh Thơ thiếu hẳn tiếng vang đó. Tiếng vang thơ đó một phần tại thơ cô rõ ràng, minh bạch quá. Chữ dùng quá ư mộc mạc, nhiều khi không cân nhắc, lựa chọn gì cả. Chung quanh thơ cô không có một chút mây núi bao phủ, để giấu giếm một chút huyền bí, người đọc chỉ đoán thấy, chứ không trông rõ. Phải làm thế nào cho thơ của cô, tuy là thơ khách quan đối với người đọc, cũng như cái cảnh sáng sớm cô tả trong thơ:

Trong sương mù chèo động sóng lung linh

Nên cô lưu ý đến việc chọn chữ, lựa câu hơn một chút và nếu cô lại đem cái tài nhận xét lạ lùng của cô đặt vào cảnh khác và không bao giờ bó buộc như "Bức tranh quê", chúng tôi tin rằng cô sẽ đem lại cho nền thi ca Việt Nam những tác phẩm hay hơn thế nữa".

Nhất Linh còn chú thích ở cuối bài: "Trong "Bức tranh quê", vì sự bó buộc của toàn thể cô phải viết nhiều câu tầm thường, nhiều chữ độn cho câu thơ đủ tám chữ. Thế mà không ai bắt cô phải viết đủ mười hai câu".

3.Tôi có một kỷ niệm nhỏ với "Bức tranh quê" của nhà thơ Anh Thơ. Trên số Tết của Báo Sài Gòn giải phóng năm 2001, tôi có bài "Nữ sĩ Anh Thơ với ngày xuân xứ Bắc". Tôi đem báo đến tặng nhà thơ, lúc bà đang ở khu tập thể Văn Chương, Hà Nội. Nhà thơ Anh Thơ đọc lướt qua bài báo, rồi dừng ở đoạn này:

"Có khi nhà thơ tỏ ra hóm hỉnh, dí dỏm. Ở những câu thơ này - trong bài "Đêm xuân" - cảnh và người lại như cùng "hô ứng" với nhau tạo ra một sự hòa hợp ý nhị, hiếm thấy trong các nhà thơ cùng thời:

Ngoài đường vắng - trời đêm mà che nón?
Có hai người đi lẻn tới nương dâu.
Và lại có cả một đôi đom đóm
Bay dập dìu như muốn phải lòng nhau...".

Nhà thơ Anh Thơ bảo:

- Anh đã có một phát hiện mà từ trước tới nay, viết về tập "Bức tranh quê", tôi chưa thấy ai nói.

Hồng Diệu

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.