Xung quanh hai bài thơ tình nổi tiếng của nhà thơ Bế Kiến Quốc

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo...

Cách đây 26 năm, thời tôi còn làm việc ở Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, tôi chơi khá thân với nhà thơ Bế Kiến Quốc và họa sĩ Thành Chương. Nhóm anh em chúng tôi được nhà thơ Hữu Thỉnh (lúc ấy là Tổng biên tập) giao cho làm tờ Đặc san Văn nghệ số ra hàng tháng. Có lẽ trong cuộc đời làm báo của tôi, đấy là những tháng ngày vô tư, thanh thản và nên thơ nhất. Giờ Bế Kiến Quốc đã ở cách chúng ta một thế giới. Và tôi kể lại câu chuyện dưới đây như một sự tưởng nhớ đến người bạn thơ thân thiết đã đi xa nhưng những bài thơ tình nổi tiếng của anh vẫn còn mãi với thời gian.

Ngày ấy, khi chuẩn bị cho mỗi số Đặc san Văn nghệ hàng tháng, sau chuyến đi ngoại tỉnh lấy tư liệu viết bài, chúng tôi thường tụ tập nhiều đêm ở ngôi nhà “dưới hộp, trên sàn” (dưới là nhà bê tông mái bằng, trên là nhà sàn) của họa sĩ Thành Chương tận dưới Ngõ Quỳnh, Bạch Mai để cùng nhau biên tập, lên trang số báo sắp in.

Thật ra, chuyện làm báo chỉ là phụ, chúng tôi lấy cớ để đàn đúm, chuyện trò về văn thơ, sáng tạo nghệ thuật và chơi bời với nhau là chính. Trong nhóm bạn tri kỷ ngày ấy, có hai người làm thơ là Bế Kiến Quốc và tôi; họa sĩ Thành Chương và Thọ “muối” (nhà văn Nguyễn Văn Thọ) vừa ở Đức về. Những đêm chúng tôi thức bên nhau, đủ chuyện trên giời dưới bể, chuyện cuộc đời, chuyện văn chương, chuyện ái tình… rồi chúng tôi thức xem Thành Chương vẽ tranh.

Có thể nói, trong số bạn bè chúng tôi ngày ấy, về chuyện đào hoa tình ái thì Thành Chương là số một, là vô địch vì có rất nhiều em xinh tươi, trẻ trung say mê chàng họa sĩ tài hoa đầu trọc này. Vừa châm điếu thuốc, vừa cười nụ, Bế Kiến Quốc thân mật bảo tôi: “Nếu mình là con gái, mình cũng mê thằng Chương vì thằng này nó vừa vẽ đẹp, vừa hót hay, vừa tài giỏi lại vừa nhiều tiền, vừa biết chiều gái…

Hôm trước, bọn mình vừa chứng kiến cảnh Thành Chương móc túi lấy ra 2 chiếc đồng hồ cực “xịn” tặng luôn 2 người đẹp vừa quen biết, làm hai em này xúc động trong suốt bữa ăn tại một khách sạn sang trọng nhất nhì Hà Nội, đúng không!

Hôm sau, mình lại tận mắt thấy Thành Chương tặng hai em này mỗi em một đôi giày da cao cổ bóng loáng của Italia đang là mốt thời trang, làm cho hai nàng người mẫu này chỉ muốn tranh nhau về “góp gạo thổi cơm chung” với họa sĩ trọc thôi! Còn anh em mình, móc túi cả ngày không thấy đồng cắc nào thì suốt đời chỉ là những “nhà lão thành thất bại” trong tình yêu thôi, chú hiểu không?”.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc và vợ - nhà thơ Đỗ Bạch Mai.
Nhà thơ Bế Kiến Quốc và vợ - nhà thơ Đỗ Bạch Mai.

Đang cắm cúi vẽ, nghe Quốc nói vậy, Thành Chương ngẩng đầu lên, giương đôi mục kỉnh đít chai tròn xoe, nhìn chòng chọc vào chúng tôi, giọng đanh đá: “Này, tôi nói cho cánh làm thơ các cậu biết nhá! Tôi có vẽ đẹp đến cỡ danh họa Lêôna đờ Vanhxy hay Picátxô thì cũng thua mấy thằng thi sĩ các cậu cả thôi, tôi lấy đâu ra thơ tình để tán gái như các cậu. Không tin cứ hỏi thằng Quốc này, bài thơ “Bóng đen” nó viết để tán một cô bé cùng trường từ hồi còn học Đại học Tổng hợp Văn năm 1967 sơ tán ở Bắc Thái, sau này được đưa vào tuyển tập thơ tình hay nhất thế giới với bút danh của nhà thơ thiên tài người Đức Henrích Hainơ, thì thử hỏi thằng nào tài năng hơn thằng nào?

Tôi có vẽ suốt đời thì người ta cũng không thể nhầm tranh của tôi với tranh của Picátxô được, còn thằng Bế Kiến Quốc này viết một bài thơ tán gái thời sinh viên mà họ nhầm ngay là của thiên tài thi ca Henrich Hainơ ở Đức quốc thì mới đáng tôn vinh chớ!”. Nói xong, Thành Chương cười hề hề, và Bế Kiến Quốc cũng cười hề hề.

Đầu đuôi nghi án văn chương từ “Bóng đêm” đến “Hoa huệ” bắt đầu từ bài thơ “Hoa huệ” của Bế Kiến Quốc in trên Báo Người Hà Nội số ra ngày 1-7-1990 với những câu thơ:

Huệ trắng, bức tường trắng
Sao bóng hoa lại đen
Em đừng nhìn đi đâu nữa em
Anh không biết vì sao, ai có lỗi
Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo trên.

Câu chuyện về bài thơ trên không chỉ dừng ở đó. Sau khi bài thơ “Hoa huệ” được công bố, tháng 9-1992, tôi tình cờ có trong tay cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” (một cuốn bách khoa thư về phụ nữ) do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành (nộp lưu chiểu tháng 12-1990). Khi đọc phần tuyển chọn những bài thơ tình hay của thế giới và Việt Nam, tôi giật mình đọc thấy tên nhà thơ nổi tiếng thế giới Henrich Hainơ (Đức) ở bài thơ “Bóng đen” với 10 câu thơ sau :

Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Em nhìn đi đâu thế em
Ừ, anh biết chúng mình không có lỗi
Nhưng lòng em băn khoăn tự hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Có thể nào anh lại không tin
Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Ai hiểu được cuộc đời kỳ lạ lắm
Mà bóng em buồn ngả xuống giữa lòng anh

Phía dưới bài thơ ghi rõ “Rút từ tập Thơ Hainơ - NXB Văn học 1970”. Tôi giật mình vì sự giống nhau đến kỳ lạ giữa hai bài thơ có cùng một tứ thơ. Nhưng nhà thơ vĩ đại người Đức Henrich Hainơ đã mất từ lâu rồi, nên chắc chắn “cụ” ấy không bao giờ đọc thơ Bế Kiến Quốc để có thể bị ảnh hưởng từ bài thơ của người đã sinh sau cụ, lại đang ở một phương trời khác.

Tôi mang cuốn “Người mẹ và phái đẹp” đến cho Quốc đọc và chất vấn: “Anh giải thích như thế nào về “Hoa huệ” và “Bóng đen” khi có ý kiến cho rằng anh đã “thuổng” thơ của Henrich Hainơ?”. Bế Kiến Quốc ngơ ngác, thất thần nhưng anh cũng đã chỉ rõ bài thơ “Bóng đen” 10 câu in trên cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” mang tên Henrich Hainơ chính là bản thảo đầu tiên gồm 10 câu của bài thơ “Bóng đen” anh viết năm 1967. Chính vì bài thơ có tựa đề u ám như thế nên không thể nào in được vào thời điểm đó. “Sau này thấy bài thơ “Bóng đen” có vẻ hơi dàn trải, một vài câu hơi thừa, một vài chỗ chưa ưng ý lắm, nên tôi đã sửa lại cho cô đọng hơn và đổi tên bài thơ thành “Hoa huệ”. Còn, vì sao bài thơ “Bóng đen” lại được đưa vào sách và nhầm thành của Henrich Hainơ thì tôi hoàn toàn không hiểu”, Bế Kiến Quốc băn khoăn.

Để tìm lời giải đáp, người viết bài này đã đến gặp nhà thơ Lữ Huy Nguyên (lúc ấy là Giám đốc NXB Văn học) để tìm hiểu tập “Thơ Hainơ” được xuất bản năm 1970. Ông Nguyên và tôi đọc toàn bộ tuyển thơ này, thấy không có bài thơ “Bóng đen” và hoàn toàn không có một ý thơ, một tứ thơ, một hình ảnh thơ nào tương tự như thế. Để làm rõ hơn, nhà thơ Bế Kiến Quốc và tôi đến gặp nhà thơ Quang Huy (lúc đó là Giám đốc NXB Văn hóa - nơi in cuốn “Người mẹ và phái đẹp”).

Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra con đường “sai sót” đưa bài thơ vào tập sách, vì ở cuối phần chọn thơ có ghi rõ những người tham gia tuyển chọn có cả “Tập thể sinh viên năm thứ ba, thứ tư Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”. Như vậy, bài thơ “Bóng đen” chép tay, lưu truyền trong giới sinh viên đến mức “tam sao thất bản” nhầm lẫn cả tên tác giả đã được đưa vào một cuốn sách khá nổi tiếng.

Về việc trên, năm 1992, nhà thơ Quang Huy thay mặt NXB Văn hóa đã xin lỗi nhà thơ Bế Kiến Quốc, trả nhuận bút bài thơ “Bóng đen” và hứa khi tái bản lần sau sẽ sửa chữa lại cho đúng. Khi ấy, tôi hỏi vui Bế Kiến Quốc: “Có nên chúc mừng anh vì bị nhầm thành Hainơ không nhỉ?”, nhà thơ  cười cho rằng: “Nhầm thành ai cũng không thích thú gì! Tôi chỉ cần là chính mình mà thôi.

Nhân tiện xin kể thêm: Hồi trước 1975, một tờ báo tiến bộ trong đô thị miền Nam đã in bài thơ “Những dòng sông” của tôi để cổ động phong trào sinh viên yêu nước (bài thơ được trao giải thưởng cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969) dưới tên tác giả Hồng Hà để tránh sự kiểm duyệt. Và, một chuyện khác, bài thơ “Điệu Lý qua cầu” của tôi (cho tới nay vẫn chưa in sách báo lần nào) đã được nhạc sĩ Trần Tiến phỏng lời câu thơ để phổ nhạc thành bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu”.

Bài thơ tình này Bế Kiến Quốc viết trong chuyến đi công tác ở phía Nam năm 1984 tặng một người bạn gái ở Cao Lãnh, Đồng Tháp, có nội dung sau:

Bằng lòng đi em…
Nhưng má anh đã mất
Mịt mù xa Nam - Bắc khó đưa dâu
Bằng lòng đi em…
Nửa mai rồi cách mặt
Chuyện tâm tình muốn nói dễ chi đâu
Bằng lòng đi em…
Dẫu chỉ nhờ câu hát
Có chiếc xuồng ba lá của riêng nhau…
Bằng lòng đi em…
Mỗi khi buồn muốn khóc
Một mình anh ca điệu lý qua cầu…

Còn ca từ trong bài hát của nhạc sĩ Trần Tiến có nội dung sau: “Bằng lòng đi em về với quê anh/ Một cù lao xanh một dòng sông xanh/ Bằng lòng đi em về với quê anh/ Mình ngồi bên nhau tình tự quê hương/ Bằng lòng đi em về với quê anh/ Mùa mưa, cầu tre dẫu khó đưa dâu/ Bằng lòng bên anh dưới mái tranh nghèo/ Về đây người quê chỉ có tấm lòng /Có chiếc xuồng ba lá để đưa em/ Ôi đóa hoa tím trôi liu riu /Dòng sông nước chảy liu riu /Anh thấy em nhỏ xíu, nhỏ xíu anh thương/ Ôi những đêm ngắm sông, nhớ em buồn muốn khóc/ Mình anh ca điệu lý qua cầu…”.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc cho biết thêm: “Khi  làm bài thơ này, tôi có đọc cho nhạc sĩ Trần Tiến nghe, anh ấy rất thích, bảo tôi chép cho một bản và nói sẽ từ gợi ý của bài thơ để viết một bài hát. Nhưng nay mai, nếu tôi in bài thơ đó, rất có thể sẽ có ai đấy nghi ngờ tôi lấy ý bài hát của Trần Tiến. Chính vì ngại phải giải thích dài dòng mà cho tới nay tôi cũng chẳng muốn in bài thơ ấy nữa”.

Bế Kiến Quốc giữ đúng lời nói ấy, trước lúc qua đời năm 2002, nhà thơ không đưa bài thơ ấy vào trong các tập thơ của mình.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.