Xung quanh hai bài thơ tình nổi tiếng của nhà thơ Bế Kiến Quốc

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo...

Cách đây 26 năm, thời tôi còn làm việc ở Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam, tôi chơi khá thân với nhà thơ Bế Kiến Quốc và họa sĩ Thành Chương. Nhóm anh em chúng tôi được nhà thơ Hữu Thỉnh (lúc ấy là Tổng biên tập) giao cho làm tờ Đặc san Văn nghệ số ra hàng tháng. Có lẽ trong cuộc đời làm báo của tôi, đấy là những tháng ngày vô tư, thanh thản và nên thơ nhất. Giờ Bế Kiến Quốc đã ở cách chúng ta một thế giới. Và tôi kể lại câu chuyện dưới đây như một sự tưởng nhớ đến người bạn thơ thân thiết đã đi xa nhưng những bài thơ tình nổi tiếng của anh vẫn còn mãi với thời gian.

Ngày ấy, khi chuẩn bị cho mỗi số Đặc san Văn nghệ hàng tháng, sau chuyến đi ngoại tỉnh lấy tư liệu viết bài, chúng tôi thường tụ tập nhiều đêm ở ngôi nhà “dưới hộp, trên sàn” (dưới là nhà bê tông mái bằng, trên là nhà sàn) của họa sĩ Thành Chương tận dưới Ngõ Quỳnh, Bạch Mai để cùng nhau biên tập, lên trang số báo sắp in.

Thật ra, chuyện làm báo chỉ là phụ, chúng tôi lấy cớ để đàn đúm, chuyện trò về văn thơ, sáng tạo nghệ thuật và chơi bời với nhau là chính. Trong nhóm bạn tri kỷ ngày ấy, có hai người làm thơ là Bế Kiến Quốc và tôi; họa sĩ Thành Chương và Thọ “muối” (nhà văn Nguyễn Văn Thọ) vừa ở Đức về. Những đêm chúng tôi thức bên nhau, đủ chuyện trên giời dưới bể, chuyện cuộc đời, chuyện văn chương, chuyện ái tình… rồi chúng tôi thức xem Thành Chương vẽ tranh.

Có thể nói, trong số bạn bè chúng tôi ngày ấy, về chuyện đào hoa tình ái thì Thành Chương là số một, là vô địch vì có rất nhiều em xinh tươi, trẻ trung say mê chàng họa sĩ tài hoa đầu trọc này. Vừa châm điếu thuốc, vừa cười nụ, Bế Kiến Quốc thân mật bảo tôi: “Nếu mình là con gái, mình cũng mê thằng Chương vì thằng này nó vừa vẽ đẹp, vừa hót hay, vừa tài giỏi lại vừa nhiều tiền, vừa biết chiều gái…

Hôm trước, bọn mình vừa chứng kiến cảnh Thành Chương móc túi lấy ra 2 chiếc đồng hồ cực “xịn” tặng luôn 2 người đẹp vừa quen biết, làm hai em này xúc động trong suốt bữa ăn tại một khách sạn sang trọng nhất nhì Hà Nội, đúng không!

Hôm sau, mình lại tận mắt thấy Thành Chương tặng hai em này mỗi em một đôi giày da cao cổ bóng loáng của Italia đang là mốt thời trang, làm cho hai nàng người mẫu này chỉ muốn tranh nhau về “góp gạo thổi cơm chung” với họa sĩ trọc thôi! Còn anh em mình, móc túi cả ngày không thấy đồng cắc nào thì suốt đời chỉ là những “nhà lão thành thất bại” trong tình yêu thôi, chú hiểu không?”.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc và vợ - nhà thơ Đỗ Bạch Mai.
Nhà thơ Bế Kiến Quốc và vợ - nhà thơ Đỗ Bạch Mai.

Đang cắm cúi vẽ, nghe Quốc nói vậy, Thành Chương ngẩng đầu lên, giương đôi mục kỉnh đít chai tròn xoe, nhìn chòng chọc vào chúng tôi, giọng đanh đá: “Này, tôi nói cho cánh làm thơ các cậu biết nhá! Tôi có vẽ đẹp đến cỡ danh họa Lêôna đờ Vanhxy hay Picátxô thì cũng thua mấy thằng thi sĩ các cậu cả thôi, tôi lấy đâu ra thơ tình để tán gái như các cậu. Không tin cứ hỏi thằng Quốc này, bài thơ “Bóng đen” nó viết để tán một cô bé cùng trường từ hồi còn học Đại học Tổng hợp Văn năm 1967 sơ tán ở Bắc Thái, sau này được đưa vào tuyển tập thơ tình hay nhất thế giới với bút danh của nhà thơ thiên tài người Đức Henrích Hainơ, thì thử hỏi thằng nào tài năng hơn thằng nào?

Tôi có vẽ suốt đời thì người ta cũng không thể nhầm tranh của tôi với tranh của Picátxô được, còn thằng Bế Kiến Quốc này viết một bài thơ tán gái thời sinh viên mà họ nhầm ngay là của thiên tài thi ca Henrich Hainơ ở Đức quốc thì mới đáng tôn vinh chớ!”. Nói xong, Thành Chương cười hề hề, và Bế Kiến Quốc cũng cười hề hề.

Đầu đuôi nghi án văn chương từ “Bóng đêm” đến “Hoa huệ” bắt đầu từ bài thơ “Hoa huệ” của Bế Kiến Quốc in trên Báo Người Hà Nội số ra ngày 1-7-1990 với những câu thơ:

Huệ trắng, bức tường trắng
Sao bóng hoa lại đen
Em đừng nhìn đi đâu nữa em
Anh không biết vì sao, ai có lỗi
Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen

Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo trên.

Câu chuyện về bài thơ trên không chỉ dừng ở đó. Sau khi bài thơ “Hoa huệ” được công bố, tháng 9-1992, tôi tình cờ có trong tay cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” (một cuốn bách khoa thư về phụ nữ) do Nhà xuất bản Văn hóa ấn hành (nộp lưu chiểu tháng 12-1990). Khi đọc phần tuyển chọn những bài thơ tình hay của thế giới và Việt Nam, tôi giật mình đọc thấy tên nhà thơ nổi tiếng thế giới Henrich Hainơ (Đức) ở bài thơ “Bóng đen” với 10 câu thơ sau :

Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Em nhìn đi đâu thế em
Ừ, anh biết chúng mình không có lỗi
Nhưng lòng em băn khoăn tự hỏi
Sao bóng hoa trên tường lại đen
Có thể nào anh lại không tin
Bông huệ trắng và bức tường cũng trắng
Ai hiểu được cuộc đời kỳ lạ lắm
Mà bóng em buồn ngả xuống giữa lòng anh

Phía dưới bài thơ ghi rõ “Rút từ tập Thơ Hainơ - NXB Văn học 1970”. Tôi giật mình vì sự giống nhau đến kỳ lạ giữa hai bài thơ có cùng một tứ thơ. Nhưng nhà thơ vĩ đại người Đức Henrich Hainơ đã mất từ lâu rồi, nên chắc chắn “cụ” ấy không bao giờ đọc thơ Bế Kiến Quốc để có thể bị ảnh hưởng từ bài thơ của người đã sinh sau cụ, lại đang ở một phương trời khác.

Tôi mang cuốn “Người mẹ và phái đẹp” đến cho Quốc đọc và chất vấn: “Anh giải thích như thế nào về “Hoa huệ” và “Bóng đen” khi có ý kiến cho rằng anh đã “thuổng” thơ của Henrich Hainơ?”. Bế Kiến Quốc ngơ ngác, thất thần nhưng anh cũng đã chỉ rõ bài thơ “Bóng đen” 10 câu in trên cuốn Almanach “Người mẹ và phái đẹp” mang tên Henrich Hainơ chính là bản thảo đầu tiên gồm 10 câu của bài thơ “Bóng đen” anh viết năm 1967. Chính vì bài thơ có tựa đề u ám như thế nên không thể nào in được vào thời điểm đó. “Sau này thấy bài thơ “Bóng đen” có vẻ hơi dàn trải, một vài câu hơi thừa, một vài chỗ chưa ưng ý lắm, nên tôi đã sửa lại cho cô đọng hơn và đổi tên bài thơ thành “Hoa huệ”. Còn, vì sao bài thơ “Bóng đen” lại được đưa vào sách và nhầm thành của Henrich Hainơ thì tôi hoàn toàn không hiểu”, Bế Kiến Quốc băn khoăn.

Để tìm lời giải đáp, người viết bài này đã đến gặp nhà thơ Lữ Huy Nguyên (lúc ấy là Giám đốc NXB Văn học) để tìm hiểu tập “Thơ Hainơ” được xuất bản năm 1970. Ông Nguyên và tôi đọc toàn bộ tuyển thơ này, thấy không có bài thơ “Bóng đen” và hoàn toàn không có một ý thơ, một tứ thơ, một hình ảnh thơ nào tương tự như thế. Để làm rõ hơn, nhà thơ Bế Kiến Quốc và tôi đến gặp nhà thơ Quang Huy (lúc đó là Giám đốc NXB Văn hóa - nơi in cuốn “Người mẹ và phái đẹp”).

Cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra con đường “sai sót” đưa bài thơ vào tập sách, vì ở cuối phần chọn thơ có ghi rõ những người tham gia tuyển chọn có cả “Tập thể sinh viên năm thứ ba, thứ tư Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”. Như vậy, bài thơ “Bóng đen” chép tay, lưu truyền trong giới sinh viên đến mức “tam sao thất bản” nhầm lẫn cả tên tác giả đã được đưa vào một cuốn sách khá nổi tiếng.

Về việc trên, năm 1992, nhà thơ Quang Huy thay mặt NXB Văn hóa đã xin lỗi nhà thơ Bế Kiến Quốc, trả nhuận bút bài thơ “Bóng đen” và hứa khi tái bản lần sau sẽ sửa chữa lại cho đúng. Khi ấy, tôi hỏi vui Bế Kiến Quốc: “Có nên chúc mừng anh vì bị nhầm thành Hainơ không nhỉ?”, nhà thơ  cười cho rằng: “Nhầm thành ai cũng không thích thú gì! Tôi chỉ cần là chính mình mà thôi.

Nhân tiện xin kể thêm: Hồi trước 1975, một tờ báo tiến bộ trong đô thị miền Nam đã in bài thơ “Những dòng sông” của tôi để cổ động phong trào sinh viên yêu nước (bài thơ được trao giải thưởng cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969) dưới tên tác giả Hồng Hà để tránh sự kiểm duyệt. Và, một chuyện khác, bài thơ “Điệu Lý qua cầu” của tôi (cho tới nay vẫn chưa in sách báo lần nào) đã được nhạc sĩ Trần Tiến phỏng lời câu thơ để phổ nhạc thành bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu”.

Bài thơ tình này Bế Kiến Quốc viết trong chuyến đi công tác ở phía Nam năm 1984 tặng một người bạn gái ở Cao Lãnh, Đồng Tháp, có nội dung sau:

Bằng lòng đi em…
Nhưng má anh đã mất
Mịt mù xa Nam - Bắc khó đưa dâu
Bằng lòng đi em…
Nửa mai rồi cách mặt
Chuyện tâm tình muốn nói dễ chi đâu
Bằng lòng đi em…
Dẫu chỉ nhờ câu hát
Có chiếc xuồng ba lá của riêng nhau…
Bằng lòng đi em…
Mỗi khi buồn muốn khóc
Một mình anh ca điệu lý qua cầu…

Còn ca từ trong bài hát của nhạc sĩ Trần Tiến có nội dung sau: “Bằng lòng đi em về với quê anh/ Một cù lao xanh một dòng sông xanh/ Bằng lòng đi em về với quê anh/ Mình ngồi bên nhau tình tự quê hương/ Bằng lòng đi em về với quê anh/ Mùa mưa, cầu tre dẫu khó đưa dâu/ Bằng lòng bên anh dưới mái tranh nghèo/ Về đây người quê chỉ có tấm lòng /Có chiếc xuồng ba lá để đưa em/ Ôi đóa hoa tím trôi liu riu /Dòng sông nước chảy liu riu /Anh thấy em nhỏ xíu, nhỏ xíu anh thương/ Ôi những đêm ngắm sông, nhớ em buồn muốn khóc/ Mình anh ca điệu lý qua cầu…”.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc cho biết thêm: “Khi  làm bài thơ này, tôi có đọc cho nhạc sĩ Trần Tiến nghe, anh ấy rất thích, bảo tôi chép cho một bản và nói sẽ từ gợi ý của bài thơ để viết một bài hát. Nhưng nay mai, nếu tôi in bài thơ đó, rất có thể sẽ có ai đấy nghi ngờ tôi lấy ý bài hát của Trần Tiến. Chính vì ngại phải giải thích dài dòng mà cho tới nay tôi cũng chẳng muốn in bài thơ ấy nữa”.

Bế Kiến Quốc giữ đúng lời nói ấy, trước lúc qua đời năm 2002, nhà thơ không đưa bài thơ ấy vào trong các tập thơ của mình.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.