Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.
Nhà thơ Hoàng Cầm tên khai sinh là Bùi Tằng Việt, sinh năm 1922, quê Thuận Thành, Bắc Ninh, tham gia Việt Minh từ năm 1944, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. Ông mất năm 2010 tại Hà Nội.
Trong số 136 bài thơ của tôi được trang Thivien.net đưa lên, thì bài thơ tình "Mùa thu không trở lại" được nhiều người đọc nhất và nhiều người thích nhất. Ngay từ khi bài thơ này được công bố trên báo chí cách đây gần ba chục năm, nó đã nằm trong sổ tay của không ít các bạn trẻ yêu thơ.
Trong chùm thơ 7 bài của Như Bình đăng trên “Viết và Đọc” chuyên đề mùa Hạ có 4 bài về tình yêu đôi lứa, 3 bài về chủ đề khác. Trong 4 bài về chủ đề tình yêu ấy “Ảo giác” ; “Trầm cảm 1” ; “Con thú”; “Viết về cái chết” thì bài thơ “Ảo giác” có sức mạnh ám gợi lạ lùng.
Tôi đã đọc mấy tập thơ của Nghiêm Huyền Vũ. Anh viết về khá nhiều đề tài, chứng tỏ sự lịch lãm và một vốn sống ngồn ngộn, tươi ròng. Mảng thơ tình đậm đặc hơn. Nhìn chung, thơ Nghiêm Huyền Vũ hiền hoà, hay ở bài, chứ không có nhiều lấp lánh ở câu ở chữ. Nó như một tiếng hát ngọt ngào, một dòng suối êm đềm, tình thơ sáng đẹp và thuần khiết...
Chế Lan Viên (1920 - 1989) là nhà thơ không làm nhiều thơ tình so với các nhà thơ khác. “Tình ca ban mai” là trường hợp hiếm hoi. Ông làm ít thơ tình, nhưng hay, gây được ấn tượng đặc biệt cho người đọc. Bài này có thể nói là một bài thơ tình đặc sắc, chẳng phải chỉ so với các bài khác của ông mà so với thơ tình trong nền thơ hiện đại Việt Nam.
Nếu ví bài thơ "Một chiều ngược gió" như một cô gái thì không hẳn là có nhan sắc lộng lẫy, càng không đến mức "chim sa, cá lặn". Nhưng không hiểu sao, mới chỉ tiếp xúc một lần, chưa giao tiếp nhiều, càng không thể tâm sự điều gì mà tôi có cảm giác đã rất thân quen, rất ấn tượng, khiến tôi nhớ mãi, luôn mong gặp lại.
Lâu nay cái tên Ánh Tuyết, một nhà thơ nữ ở quê lúa Thái Bình đã trở nên quen thuộc với độc giả bởi những bài thơ tình dào dạt, mê đắm và không kém phần dữ dội. Chỉ đọc tên một số tập thơ đã thấy chất nữ tính nổi trội, dám nói thẳng băng về những điều khó nói lâu nay: "Còn đang đàn bà"; "Đá nổi mây chìm"; "Bão tạt ngang"; "Có thể là yêu".
Nhà thơ Đoàn Vị Thượng (1959-2021) để lại không nhiều tác phẩm. Khi nhà thơ Đoàn Vị Thượng giằng co những ngày cuối cùng với cơn bạo bệnh, thì người thân đã gom góp in “Thơ Đoàn Vị Thượng” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2020. Và bây giờ, kỷ niệm 1 năm nhà thơ Đoàn Vị Thượng rời khỏi dương gian, “Thơ tình và những bài áo trắng” tiếp tục được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, để công chúng có dịp thương nhớ nhà thơ Đoàn Vị Thượng.
Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc trao hoa, bắt tay chúc mừng nhà thơ Đỗ Doãn Phương đoạt giải tập thơ “Hoan ca” nhân Ngày hội sách và văn hóa đọc tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Kể từ “Hoan ca” (2011) đến “Ly ca” (2021) được “chính chủ” đề tặng trang trọng cũng vừa tròn 10 năm.
Tôi từng nghĩ, Thu là người đàn bà tạo ra bão, để rồi ảo tưởng, giày vò, và đổ vỡ vì bão... Nhưng sau cùng, Thu lại tự mình gói ghém vết thương "vô ý tự gây ra", và tiếp tục sống sót, sống một cách mãnh liệt với trái tim ngập tràn yêu thương hơn hết thảy.
Thuở còn là sinh viên, tôi thường chép vào sổ tay nhiều bài thơ tình cũng từ sổ tay của các bạn yêu thơ trong lớp mà nhiều khi không biết tác giả là ai, xuất xứ từ đâu.
Đi công tác về, được cơ quan báo là nhà thơ Huy Cận ốm, tôi liền cùng anh em vào bệnh viện Hữu Nghị thăm. Nghe tiếng chúng tôi ở hành lang, nhà thơ nói vọng ra: - Mình ở đây, Huy Cận ở đây!
Bế Kiến Quốc cho biết, bài thơ tình này anh viết tặng một người bạn gái cùng học năm thứ hai Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội khi trường sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên năm 1967. Mối tình trắc trở giữa hai người và hình ảnh ngọn đèn dầu hắt bóng hoa lên tường thành màu đen đã giúp anh viết nên bài thơ tình độc đáo...
Có khí chất rất đàn ông và một giọng đọc thơ hào sảng, nên thi sĩ Thu Bồn khá đào hoa. Những cuộc tình mây tụ mưa tan của thi sĩ Thu Bồn được chính ông tường trình khá si mê trong tập 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên.
Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên có nhiều bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành những ca khúc nổi tiếng "Thà như giọt mưa", "Cô Bắc kỳ nho nhỏ", "Hai năm tình lận đận"…
Những câu hát "mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi" đã trở nên rất quen thuộc trong đời sống cộng đồng. Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng đã phổ thơ của nhà thơ Thanh Tùng và đưa đến cho công chúng những lời thì thầm đầy xao xuyến về tình yêu đôi lứa nồng nàn như mùa hè khao khát đỏ bừng từng cánh phượng. Thế nhưng, những giai điệu không thể bộc lộ hết được tâm tư xa vắng mang dấu vết thân phận của hai nhân vật trong bài thơ.
Thời kỳ đất nước ta đang kháng chiến chống Mỹ (và cả mấy năm sau đó nữa) thơ tình rất ít được in - nhất là những bài thơ tình chỉ nói chuyện riêng về trai gái mà không nói đến chuyện chung của nhân dân, của đất nước. Chỉ có riêng Xuân Diệu là thơ tình vẫn được in thường xuyên, và in nhiều hơn bất cứ một nhà thơ nào khác...