“Vũ trụ thiên văn” trên lịch cổ khắc thanh tre

Khi tham gia các lễ hội văn hóa của người Mường hay có dịp thăm Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) hay đến Bảo tàng Không gian văn hóa Mường ở TP Hòa Bình… du khách sẽ ngạc nhiên trước lịch thiên văn được khắc trên những thanh tre công phu và bắt mắt có từ hàng trăm năm trước, để lại nhiều ấn tượng.

Ngày càng trở nên quý giá

Lịch khắc trên các thanh tre của người Mường, còn gọi là lịch Đoi/Roi. Bộ lịch này dựa trên sự quan sát chuyển động của mặt trăng và sao Đoi/ Roi để xác định tháng, đồng thời được sử dụng để định thời gian cho các hoạt động sản xuất, phong tục và nghi lễ trong cuộc sống người Mường.

Về mặt tâm linh, lịch tre là biểu hiện của sự kết nối giữa con người với vũ trụ và tổ tiên, là la bàn chỉ dẫn để sống hài hòa với trời đất. Trong bối cảnh hiện đại, khi các giá trị truyền thống đang bị mai một, lịch tre càng trở nên quý giá, bởi không chỉ là di sản vật chất mà còn là biểu tượng của bản sắc, ký ức và tinh thần độc lập của một dân tộc.

“Vũ trụ thiên văn” trên lịch cổ khắc thanh tre -0
Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Minh bên lịch tre phóng to.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, lịch tre là minh chứng sống động cho tư duy thiên văn nông nghiệp cổ truyền, phản ánh cách người Mường xưa lý giải thế giới. Dù có nhiều điểm tương đồng với lịch âm, nhưng lịch Đoi mang bản sắc riêng, đậm tính quan sát và kinh nghiệm của cư dân bản địa. Đó không chỉ là công cụ tính ngày mà là cách con người sống thuận theo thiên nhiên, điều chỉnh hành vi theo nhịp trăng sao. Hơn nữa, nó còn chứa đựng tư duy hệ thống, nhân sinh quan, triết lý sống hài hòa với đất trời của người Mường.

Hiện nay, bên cạnh lịch âm, lịch dương thông dụng, tất cả hoạt động sản xuất, sinh hoạt hàng ngày, phong tục, nghi lễ, lễ hội của cộng đồng, những việc quan trọng của mỗi người đều dựa vào cách tính cát, hung của bộ lịch tre.

Không cần lịch giấy và điện thoại

Bộ lịch tre của người Mường tỉnh Hòa Bình gồm 12 thẻ, làm từ những thanh tre được róc, vót, đánh bóng cẩn thận. Trên thẻ tre có các khắc, vạch, chấm biểu thị ngày, tháng và các hiện tượng quy luật tự nhiên của trời đất trong năm. Trên mỗi thẻ tre có các bộ phận chính gồm gốc lịch, sống lịch, mặt lịch. Mỗi thẻ khắc 30 vạch tương đương với 30 ngày trong một tháng.

Theo cách tính lịch, các ngày từ 1-10 gọi là "ngày cây”, từ ngày 11-20 gọi là "ngày lồng”, từ ngày 21-30 gọi là "ngày cuối”. Trong đó, số ngày trong tháng ghi theo lối khắc gạch những ngày tốt, xấu, ngày mưa, ngày gió, ngày cá, ngày thú, ngày đại cát hay ngày xích khẩu… để đi làm ăn, làm nhà mới, dựng vợ, gả chồng hay công to việc lớn trong mường. Đặc biệt, do lịch tre lệch khoảng 15 ngày so với lịch âm nên người Mường ăn Tết Đoi riêng, thường sau Tết Nguyên đán nửa tháng.

Vạch thường được dùng để biểu thị ngày, mỗi vạch tương ứng với một ngày trong tháng. Chấm được dùng để biểu thị các sự kiện đặc biệt hoặc các ngày quan trọng trong tháng. Khắc dùng để biểu thị các tháng trong năm hoặc các mùa trong năm. Để đọc lịch tre, người Mường thường kết hợp các ký hiệu này lại với nhau. Một vạch đơn có thể là một ngày bình thường. Một vạch có kèm theo một chấm có thể là một ngày đặc biệt. Một nhóm các vạch và chấm có thể tạo thành một tuần hoặc một tháng...

Ý nghĩa của các ký hiệu trên lịch tre có thể khác nhau tùy theo từng vùng và từng dòng họ. Tuy nhiên, nhìn chung, các ký hiệu này đều phản ánh những quan sát của người Mường về thiên nhiên và đời sống như: các ký hiệu về thời tiết có thể giúp người Mường dự đoán mùa màng và thời tiết; các ký hiệu về hoạt động sản xuất có thể giúp người Mường sắp xếp công việc; các ký hiệu về những ngày lễ hội có thể giúp người Mường chuẩn bị cho các dịp đặc biệt. Ngoài ra, còn có các ký hiệu:

Tháng: Mỗi tháng trong lịch tre có thể được biểu thị bằng một ký hiệu riêng. Ví như, tháng Giêng có thể được biểu thị bằng một hình ảnh cây lúa non, tháng Hai có thể được biểu thị bằng một hình ảnh chim cu gáy, và cứ thế tiếp tục cho đến tháng Mười hai; Ngày: Mỗi ngày trong tháng có thể được biểu thị bằng một vạch. Các ngày quan trọng có thể được đánh dấu bằng một chấm hoặc một ký hiệu đặc biệt.

Mùa: Các mùa trong năm cũng có thể được biểu thị bằng các ký hiệu riêng. Ví như, mùa xuân có thể được biểu thị bằng hình ảnh cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa hè có thể được biểu thị bằng hình ảnh mặt trời, mùa thu có thể được biểu thị bằng hình ảnh lá rụng, và mùa đông có thể được biểu thị bằng hình ảnh bông tuyết. 

Số lượng và mật độ của các ngày này thay đổi theo từng tháng. Ví như, tháng nào thấy có nhiều vạch hình mũi tên thì tháng đó có rất nhiều mưa bão. Nếu gieo mạ, cấy lúa... vào những ngày mưa bão thì sẽ bị hư hỏng hết. Nếu vào ngày cá thì người dân đi đánh cá, mò cua bắt ốc sẽ được nhiều. Số ngày trong tháng ghi theo lối khắc gạch những ngày tốt, xấu, ngày mưa, ngày gió, ngày cá, ngày thú, ngày đại cát hay ngày xích khẩu… để làm nhà mới, cưới vợ, gả chồng hay công to việc lớn trong gia đình, trong cộng đồng.

“Vũ trụ thiên văn” trên lịch cổ khắc thanh tre -1
Lịch tre phản ánh những quan sát của người Mường về thiên nhiên, đời sống.

Người Mường không cần lịch giấy, không cần điện thoại, chỉ cần nhìn trăng và nhìn lên các thẻ tre được khắc các ký tự này là biết phải làm gì.

Việc giải thích ý nghĩa của các ký hiệu trên lịch tre có thể gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ giữa các vùng. Tuy nhiên, việc tìm hiểu về các ký hiệu này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về lịch sử và văn hóa của người Mường.

“Bộ lịch chính là sự tổng hợp, đúc kết qua nhiều đời của người Mường xưa, biểu hiện rực rỡ của tư duy người dân tộc Mường trong nhận thức thế giới, qua quan sát sự vận động của mặt trăng. Đặc biệt là đặc tính chu kỳ trăng, sự vận chuyển của sao để phân định thời gian, ngày, giờ, tuần, tháng, năm”, Nghệ nhân Nhân dân Bùi Văn Minh ở xã Văn Sơn, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình (cũ), cho hay.

Bí ẩn khắc trên cuốn “lịch trời”

Theo nghệ nhân mo Mường Bùi Văn Minh thì xưa kia mỗi dòng họ hay một làng có một người được giao giữ lịch để xem ngày cho cả bản làng. Người được chọn thường là thầy mo, thầy mỡi hoặc thầy tlượng. Xem lịch tre phải biết ngẩng đầu nhìn sao Đoi, cúi đầu đọc vạch tre, rồi kết hợp cả kinh nghiệm, sự hiểu biết uyên thâm về tri thức địa lý, thiên văn...

Những điều này, không có sách nào dạy. Tất cả đều được học, truyền miệng từ người đi trước cho người đi sau, rồi tự mình cảm. Đối với lịch Đoi của người Mường, người ngoài nhìn vào chỉ thấy mấy cái vạch vô nghĩa, nhưng với thầy mo, thầy mỡi, thầy tlượng thì đó là cả một hệ tri thức cổ truyền.

Ngày nay, lịch tre đang dần trở thành ký ức. Phần lớn người trẻ ở các vùng Mường không mấy ai còn biết khái niệm lịch Đoi là gì. Sự thay đổi của thời tiết, biến đổi khí hậu và thay đổi chu kỳ thiên văn khiến các dự đoán không còn chính xác như xưa nên càng khiến người ta xa rời bộ lịch cổ này. Nhưng với những người như ông Minh và những thầy mo trong cộng đồng Mường thì với họ vẫn luôn tâm niệm “giữ được lịch Đoi là giữ được cái hồn xứ Mường".

Trong không gian bảo tàng của mình, nghệ nhân Bùi Thanh Bình, Giám đốc Bảo tàng Di sản văn hóa Mường vẫn thường bảo: Lịch tre không chết vì thời gian trong đó vẫn sống. Chỉ cần còn một người hiểu thì lịch Mường chưa mất. Những nét khắc như dấu “mật mã” kia vẫn âm thầm vận hành bằng nhịp đập của ký ức, trăng trời và lòng người. Dù không còn được mấy ai dùng, nhưng lịch tre vẫn nhắc ta nhớ về một thời gian không chỉ để đo mà là để sống...

Trước nguy cơ thất truyền, cấp ủy, chính quyền địa phương đã nỗ lực phục hồi và bảo tồn. Năm 2022, tri thức dân gian về lịch tre (lịch Đoi) đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sau khi được công nhận, một số bộ lịch quý đã được đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Đặc biệt, tại Bảo tàng Di sản văn hóa Mường còn lưu giữ được 5 bộ lịch tre cổ có tuổi đời lên tới cả trăm năm. Tại đây, không chỉ trưng bày, còn tổ chức các buổi giới thiệu, tái hiện nghi lễ xem lịch, mời các thầy mo còn giữ nghề đến chia sẻ với du khách. Nhờ đó, những thẻ tre từ trong im lặng đã “cất tiếng, kể chuyện”.

Đông Nguyễn - M. Hùng

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.