Vinh quang dành cho người đã khuất

Người nghệ sĩ được hưởng vinh quang khi còn sống là phần thưởng  đương nhiên, nhưng có nhiều người, vinh quang chỉ đến với họ sau khi đã mất đi, thậm chí rất lâu mới được công nhận một cách xứng đáng.

Franz Kafka có lẽ là nhà văn đúng nhất trong trường hợp này. Ngày nay  trong giới ai cũng biết Kafka là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong văn học thế kỉ XX, thậm chí có người đã gọi thế kỉ XX là “thế kỉ của Kafka”, nhưng lúc nhà văn còn sống, ông gần như là một nhân vật vô danh không được ai để ý.

Lúc sinh thời Kafka chỉ in được một hai tập sách mỏng và không được mấy quan tâm. Tôi cho rằng cảm giác thất bại đã đeo đuổi Kafka suốt thời gian sống, đến nỗi khi ốm nặng, ông đã di chúc cho người bạn là Max Brod thiêu huỷ toàn bộ bản thảo của mình. Di nguyện này đã bị người ta tranh cãi rất nhiều  khi có ý kiến cho rằng, liệu Kafka có thực sự muốn thiêu huỷ bản thảo của mình? Tranh luận và phân tích về Kafka vẫn còn tiếp tục, người ta vẫn hứng thú về ông, tác phẩm của Kafka vẫn còn nhiều tầng ý nghĩa, khơi gợi những hấp dẫn. 

Nhưng rõ ràng lúc sống, thiên tài người Séc gốc Do Thái viết văn bằng tiếng Đức đã cảm thấy thất bại với những tác phẩm của mình. Chúng không tạo được tiếng vang hoặc chính nhà văn cảm thấy bi quan chán nản, tôi cho rằng đó là lí do lớn nhất dẫn đến lời di chúc kia.

Nhưng có một sự đảo chiều lớn, sau khi ông mất đi, vị thế của Kafka ngày càng nổi bật và quan trọng. Trong hành trình thay đổi ngoạn mục này có công rất lớn của người bạn của ông: Max Brod. Trước hết, Max Brod đã không đốt bản thảo như di nguyện của bạn mình, ông biên tập và cho xuất bản, quảng bá những tác phẩm của Kafka. 

Và giống như một cái lò xo bị nén quá lâu, tác phẩm của Kafka được cả thế giới ngỡ ngàng và kinh ngạc. Kafka được tôn vinh là một trong những nhà văn cách tân lớn nhất thế kỉ XX và có ảnh hưởng rất quan trọng, rất nhiều nhà văn xuất sắc trở thành môn đệ của ông. Kafka trở thành một nhân vật kiệt xuất.

Họa sĩ Van Gogh.
Họa sĩ Van Gogh.

Một nhân vật quan trọng khác, lúc sống trong cơ cực nghèo khổ, khi chết mới được hưởng vinh quang là hoạ sĩ Van Gogh. Suốt cuộc đời mình Van Gogh sống trong nghèo túng và bệnh tật, luôn phải nhận sự giúp đỡ của người em trai và bạn bè. Điều đắng cay nhất là dù vẽ đến cả nghìn bức tranh, sinh thời Van Gogh chỉ bán được một bức duy nhất và hầu như rất ít người biết đến. Hoạ sĩ sống trong cảnh tiêu điều, tuyệt vọng gần như bị điên và cuối cùng phải tự sát.

Sau cái chết bi thảm, Van Gogh vụt nhiên trở thành một trong những cái tên đáng kể nhất trong lịch sử hội hoạ hiện đại. Những bức tranh của Van Gogh như “Hoa hướng dương”, “Chân dung bác sĩ Gachet”, “Hoa diên vỹ” và nhiều bức tranh khác bán được với giá hàng trăm tỉ đồng, mỗi bức tranh của ông trở thành một gia sản, Van Gogh trở thành một trong những hoạ sĩ đắt giá nhất thế giới và cực kì được hâm mộ.

Rất nhiều cuốn sách, bộ phim viết về ông, Van Gogh trở thành một cái tên huyền thoại bậc nhất trong số các hoạ sĩ thế giới.  Nhưng cả Kafka và Van Gogh có những cảnh ngộ và bi kịch gần giống nhau lúc sống và chết. Những văn nghệ sĩ được hưởng vinh quang khi còn sống, đó là món quà cực lớn và may mắn. Picasso nổi tiếng từ rất sớm và được hưởng sự giàu sang phú quý, ông nổi tiếng đến mức có lần vào ăn ở một nhà hàng sang trọng, khi ông gọi thanh toán thì chủ nhà hàng đã từ chối và bảo người hoạ sĩ chỉ cần kí tên mình trên tấm khăn trải bàn là đã tương xứng với số tiền cần thanh toán! Tôi cũng nhớ trường hợp gần tương tự với Mạc Ngôn khi ông viết xong cuốn “Gia tộc cao lương đỏ”, chủ một chuỗi nhà hàng cao lương đỏ đã cấp cho ông một phiếu ăn để ông có thể ăn cao lương miễn phí trong chuỗi nhà hàng trên toàn lãnh thổ Trung Quốc!

Ở Việt Nam cũng có những trường hợp gần tương tự. Xưa thì có Nguyễn Du. Tôi tin rằng sau khi hoàn thành xong danh tác “Truyện Kiều”, chắc chắc Nguyễn Du chưa có địa vị như một “thi hào dân tộc” như người ta công nhận ông sau này. Có thể lúc ấy ông đã là một nhà thơ nổi tiếng và được nhiều coi trọng nhưng là một danh nhân của dân tộc thì chắc chắn không. Và chính Nguyễn Du đã biết điều đó khi trong “Truyện Kiều” và những tác phẩm khác của mình, ông đã dự cảm:

“Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”

Hay:

“Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng”

Nguyễn Du đã tự biết về danh vọng của mình lúc sinh thời nhưng may mắn thay, ông đã được tôn vinh sớm hơn rất nhiều so với dự liệu.

Vũ Trọng Phụng trong thời kì thăng hoa nhất của ngòi bút cũng sống trong túng nghèo gian khó. Khi đó Vũ Trọng Phụng đã một cây bút có tiếng tăm nhưng rõ ràng vị trí của ông không thể lớn như bây giờ, thậm chí đã có lúc Vũ Trọng Phụng bị những quan điểm giáo điều và lạc hậu làm cho lệch lạc đi. Nhiều người chê bai ông viết thứ văn chương dâm uế, ô trọc...

Sau khi ông mất đi và thêm một khoảng thời gian nữa, Vũ Trọng Phụng mới trở lại đúng giá trị của mình. Ông đã được tôn vinh và nhìn nhận đúng mức và đặc biệt tiểu thuyết  “Số đỏ” của ông đã được coi là một trong những kiệt tác của văn học Việt Nam. Nhà văn đã được đặt tên đường, tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa và có rất nhiều những nghiên cứu về ông.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng.

Một người bạn cùng thời với Vũ Trọng Phụng là Nam Cao cũng thế. Lúc sinh thời, Nam Cao đã là một tên tuổi sáng giá nhưng nếu có một vị trí cao trong nền văn học và “Chí Phèo” được coi là kiệt tác thì vẫn chưa. Nam Cao may mắn hơn Vũ Trọng Phụng vì người ta đánh giá thành tựu của ông sớm hơn nhưng cũng là sau thời điểm nhà văn đã khuất núi.

Bây giờ ta trao đổi vấn đề là tại sao nhiều nhà văn chỉ được hưởng vinh quang sau khi mất. Theo tôi có mấy điểm đáng lưu ý.

1. Người nghệ sĩ đi trước thời đại của mình. Đó là trường hợp của Kafka và Van Gogh. Những sáng tác của Kafka ở thời điểm xuất hiện quá mới mẻ và đa nghĩa, trong khi người ta vẫn quen với một hiện thực cũ, tư duy cũ. Trong bối cảnh đó Kafka khó bề được chấp nhận hoặc quan tâm. Hoặc giả Kafka cũng không thật sự đầu tư cho sự lan toả những tác phẩm của mình. Nhưng tôi nghĩ, kể cả nếu Kafka có một tính cách mạnh mẽ hơn và có những nỗ lực thì lúc ông sống, những cố gắng ấy chưa chắc đã hiệu quả. Trường hợp ấy gần tương tự với Van Gogh, người ta chưa thể quen ngay với một phong cách tranh khác biệt và ấn tượng như thế, hoặc chính hoạ sĩ cũng không có một cơ hội đáng kể nào để “lăng xê” những tác phẩm của mình.

2. Tâm lý hoài nghi những người còn sống. Tôi biết một người ham đọc sách có một quan điểm khá bảo thủ. Anh thường chỉ đọc những tác phẩm của những tác giả đã chết được trên… ba mươi năm vì cho rằng, đó là thời gian cần thiết để minh định giá trị thực sự của một tác phẩm. Một tác giả còn sống rất dễ tạo ra những thiên kiến hoặc có những ảnh hưởng lệch lạc. Người chết không nói được nữa thì tác phẩm sẽ nói.

Với triết lý này tôi nhớ một truyện ngắn của nhà văn Ý Dino Buzzati: “Kẻ giả chết”. Một hoạ sĩ tình cờ bị báo chí đưa tin nhầm là đã chết, trong khi anh ta đang còn sống sờ sờ. Bi kịch là sau “cái chết lố bịch” ấy,  công chúng bắt đầu quan tâm và anh ta trở lên nổi tiếng, tác phẩm bán rất đắt. Anh ta tiếp tục vẽ tranh và kí lùi ngày trước khi “chết” nhưng rốt cục, bi kịch cuộc đời trôi đến ào ào như dòng lũ, kẻ giả chết buộc phải chết thật trong cái quan tài dành sẵn cho mình!

3. Chưa có một môi trường thuận lợi để hiểu đúng giá trị của tác phẩm. Trường hợp này có lẽ đúng với Vũ Trọng Phụng và một số người khác. Khi xã hội vẫn còn những thiên kiến hoặc chưa có đủ một bầu khí quyển thích hợp và công bằng thì người ta rất dễ đánh giá sai lệch tác phẩm. Thậm chí chỉ cần một phát biểu của một nhân vật có ảnh hưởng, giá trị của một tác phẩm có khi bật khỏi những giá trị vốn có.

Ta từng biết chỉ vì những đánh giá của một “nhân vật có thế lực” mà những tác phẩm của Dostoievsky đã bị hạ thấp một thời gian dài ở chính Tổ quốc của ông.  Hoặc khi còn sống, tác giả cũng ở một vị trí rất khó để toả hào quang hoặc chưa được ai có “thẩm quyền” phát hiện. Rất nhiều những giá trị chỉ được minh định vì có một “con mắt xanh” phát hiện ra, khi Chung Tử Kỳ tìm được tiếng đàn Bá Nha…

Được cống hiến và tôn vinh những lao động nghệ thuật của mình là mong muốn và khát vọng của bất cứ người nghệ sĩ nào, nhưng ước nguyện và sự thực không phải khi nào cũng đi cùng nhau. Nhưng tôi tin rằng, bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào có giá trị thực sự, dù có bị khuất lấp, lu mờ ở đâu đó thì nhất định sẽ có ngày được trưng ra trong ánh sáng và toả hào quang rực rỡ.

Uông Triều

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.