Vi Hồng - ngòi bút nhà văn mãi chảy

Ngày còn đóng quân dưới chân núi Voi (Đồng Bẩm, Thái Nguyên), tình cờ tôi được đọc một số truyện ngắn của Vi Hồng in rải rác trên Báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội… Đến nay vẫn còn nhớ “Cây su su nọong ỷ”, “Cọn nước”, “Eng Nhàn”… đặc biệt là tiểu thuyết “Vãi Đàng” và “Đin phiêng” (Đất bằng) với một giọng Tày xịn. 

Văn ông vừa mang đậm phong vị thơ ca dân gian Tày Nùng, vừa đậm chất trí tuệ bác học. Đọc Vi Hồng tôi thấy hồn cốt văn chương ông gần gũi, thân thuộc, bình dị như cơm tẻ, như bát canh thịt gà gừng, như bánh cuốn nóng, như phở chua mùa hè, như bát coóng phù mùa đông, như ngửi thấy mùi măng chua xào thịt vịt.

Tôi mê ông từ đấy. Và tôi cất công hỏi thử những người xung quanh về nhà văn Vi Hồng. Nhưng những người lính chỉ cười cười, chẳng ai biết Vi Hồng vuông tròn ra sao? Câu hỏi ấy trong tôi nối dài ra ngõ. Ra đường cái. Vào các bản làng xa xôi. Về những thành phố lớn... Vẫn mờ mờ xa ngái. Vi Hồng là ai?

Tôi ra quân, chuyển ngành về công tác tại Ty Văn hóa - Thông tin Cao Bằng. Một buổi sáng cuối thu đầu đông, tôi bỗng thấy có ông già tóc mốc, dáng người nhỏ thó, vai đeo chiếc túi “pác mạ” màu chàm, áo bông màu xanh công nhân đã nhàu nhạt. Ông đang lúi húi xuất trình giấy tờ trước cổng thường trực. Lát sau ông thoăn thoắt bước vào cơ quan. Trưởng ty Văn hóa – Thông tin vừa nhác thấy, đã vội vàng ra tận cửa, vòng cả hai tay ôm chặt lấy khách. Họ ngồi rì rầm những gì với nhau, không ai biết. Thỉnh thoảng lại một chuỗi cười to, vang, tung tóe lên ngỡ có thể làm rung cả mái ngói.

Ông già đi rồi, tôi mới biết đó là nhà văn Vi Hồng. Thật tuyệt vời! Người mà tôi yêu mến bởi tài năng văn chương bỗng nhiên xuất hiện. Ông như một ngọn núi từ trời rơi xuống đất. Kỳ thực năm ấy ông mới ngoài 40 tuổi. Ông là người Tày, cùng quê hương với tôi.

Ngay sau đó, tôi rủ mấy anh em viết văn làm thơ lao đi tìm ông. Vi Hồng là một người thật dễ gần. Ông giản dị thuần phác hệt một lão nông ở bản. Đặc biệt ông có đôi mắt rực sáng và ấm nóng. Đôi mắt biết cười nhưng hầu như rất ít cười. Nhưng đôi mắt ấy không giấu nổi nỗi buồn. Nỗi buồn trĩu nặng cong cả hai hàng mi.

 Ông chăm chú nhìn và nói với chúng tôi như những người cùng làng. Giọng trầm ấm, trìu mến, chân tình. Ánh mắt của ông toát ra niềm tin cậy ngay từ buổi đầu tiên gặp mặt. Cái tình người viết văn làm thơ nó thế. Lạ lắm. Như là có hẹn từ tiền kiếp. Mới gặp lần đầu mà thân thiết được ngay.

Ông nói tiếng Kinh. Khi phát ra, giọng ông vẫn mang thổ âm đặc sệt của người Hòa An. Một người con xa quê từ lâu, đến khi trở thành một nhà văn, nhà khoa học, ông vẫn là người cày cuốc, chài lưới. Một người đang nổi tiếng khắp cả chín phương trời mười phương đất nhưng vẫn rất mực “nhà quê”.

Ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980. Hồi ấy ở miền núi Cao Bằng, danh tiếng nhà văn nhà thơ có cái gì đó thiêng liêng mê hồn và đầy sức hút. Mặc dù ông xuất hiện chưa lâu, tác phẩm xuất bản chưa nhiều, nhưng văn chương Vi Hồng đầy cá tính. Ông có lối viết không giống ai. Một kiểu tư duy nghệ thuật không giống ai. Một cá tính cực đoan không giống ai.

Ông từng nói muốn viết văn hay trước hết phải chịu nghèo tiền bạc. Ở ông có một tâm hồn cực kì nhạy cảm và phức tạp cũng không giống ai. Một tình yêu con người sâu đậm không giống ai. Ông tin vào con người. Một niềm tin trong suốt đến kỳ lạ. Cả đời ông chỉ biết yêu thương những con người lương thiện và luôn bị thua thiệt. Thương yêu con người là bản chất rõ nhất, nổi bật nhất ở tính cách nhà văn Vi Hồng. Và ông cũng là người ghét cay ghét đắng cái ác, cái giả dối, cái lươn lẹo, cái đổi trắng thay đen, cái phản thùng, cái thớ lợ của người đời.

Ông coi các cây bút trẻ Cao Bằng như những người em ruột thịt. Ông sẵn lòng dốc bầu tâm sự, không hề giấu giếm tay nghề. Đến cả niềm riêng tư cất kỹ tận đáy lòng, ông cũng đem ra tâm sự giãi bày. Ông nhiệt tình, vô tư giúp những ai thực sự có tâm hồn, có năng khiếu nghệ thuật và muốn trở thành nhà văn. Còn những ai ham thích, mong muốn trở thành nhà này nhà nọ nhưng “ngửi” tịnh không thấy có “mùi” văn, ông thẳng thắn góp ý đừng viết nữa.

“Anh hãy tập trung cho công việc mình đang làm. Phấn đấu thật tốt chuyên môn của mình còn vinh dự hơn là làm anh nhà văn nhạt hoét”. Thoạt đầu cũng có người giận ông, cho rằng ông kiêu căng, ông coi thường người khác. Nhưng càng về sau này, họ mới hiểu tấm lòng của ông là chân thật.

Còn một điều này không thể không nhắc: Vi Hồng là người có công phát hiện, khơi dậy, động viên, nâng đỡ nhiều anh em cùng lứa với chúng tôi sau này trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là nhà thơ Y Phương, nhà thơ Trần Hùng, nhà văn Cao Duy Sơn, nhà văn Nguyễn Hữu Tiến… Có thể kể thêm mấy nhà thơ nhà văn người Tày ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái... từng là sinh viên khoa Văn, học trò của thầy Vi Hồng.

Tôi có với ông một kỷ niệm nhỏ. Ấy là năm Trường viết văn Nguyễn Du mở khóa học đầu tiên, Vi Hồng trực tiếp viết thư tay gửi nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, giới thiệu tôi với trường (hình như hồi ấy nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh là cán bộ phòng giáo vụ. Lá thư hiện nay tôi vẫn còn lưu giữ). Lời lẽ trong thư ông giãi bày cặn kẽ, nói về sự cần thiết bồi dưỡng đào tạo các nhà văn dân tộc thiểu số. 

Ông luôn nhắc nhở tôi, mình là người Tày. Phải hiểu biết cặn kẽ, thấu đáo và chỉ viết những gì gắn bó máu thịt với người đồng bào mình. Tuyệt đối không vay mượn. Ở đời có vay có trả. Chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ. Tự làm lấy. Chậm cũng được. Khắc đi khắc đến. Nhiều khi cơn hứng lên, không kìm nén được, ông chê trách nhà văn người Tày nọ dám cả gan làm thơ lục bát. Ông bảo cái đó không phải của mình. Truyền thống người Tày không có thể thơ lục bát. Rồi ông tiếp tục giảng giải cho tôi về bản sắc văn hóa dân tộc Tày - Nùng. Ông nói rất kỹ về cái khác nhau, cái giống nhau trong quá trình tiếp biến văn hóa dân tộc này với các dân tộc khác.

Sau đó không lâu, ông vĩnh biệt người thân, học trò của mình. Ông trút hơi thở cuối cùng bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đã nhiều năm ủ sẵn trong người. Tôi còn nhớ rất rõ, đó vào một ngày mưa như trút. Người bạn văn, một học trò xuất sắc, đồng thời là người đồng nghiệp của thầy Vi Hồng – Phó giáo sư Tiến sĩ Vũ Anh Tuấn đã đau đớn nghẹn ngào báo tin cho tôi.

Một số tác phẩm của nhà văn Vi Hồng.
Một số tác phẩm của nhà văn Vi Hồng.

Hội Văn nghệ Cao Bằng tổ chức một đoàn lên đường về Thái Nguyên chịu tang nhà văn ngay trưa hôm ấy. Ai cũng muốn đi, nhưng xe lại quá nhỏ. Chỉ có tôi, nhà thơ Trần Hùng, nhà văn Cao Duy Sơn, nhà văn Hữu Tiến và nhà thơ Bế Thành Long được cử làm đại diện cho quê hương Cao Bằng đến thắp nén hương vĩnh biệt ông.

Xe vượt đèo Gió đèo Giàng trong màn mưa. Mưa trắng xóa như muôn ngàn cây gậy bạc, chống nỗi buồn tái tê xuống đất. Sương trắng lòa xòa như dải khăn xô choàng lên núi đồi Việt Bắc. Xe vừa đi vừa gạt nước trời. Người vừa đi vừa gạt nước mắt. Một tài năng văn chương hiếm hoi của khu vực dân tộc ít người, nay đã phải vĩnh viễn ra đi. Một người con ưu tú của quê hương miền núi Cao Bằng, nay đã phải về trời. Văn chương đang vào độ chín, ông đã phải vĩnh biệt cây bút. Xót lắm bút mực ơi! Xót đến từng sợi tóc trên người. Buốt từ gan bàn chân buốt lên tim óc. Buốt từ trong buồng tim buốt ra ngón chân ngón tay ròng ròng mặn chát.

Khi chúng tôi vừa đến nơi thì gia đình, anh em, bạn hữu, học trò đã đưa tiễn ông ra đồng rồi. Mới cuối tháng Giêng đầu tháng Hai mà mưa như đang hạ. Dưới gầm trời chiều hôm ấy mưa đan hình mắt lưới. Dằng dặc những mắt lưới. Nhìn những người thân đeo khăn tang ra đường đón, ướt nẫu trong lòng mỗi chúng tôi.

Đứng trước di ảnh người quá cố, nhà văn Cao Duy Sơn nói nhỏ vào tai tôi: “Anh đang nhìn chúng mình kìa. Hai con mắt còn chớp”. Đúng! Vi Hồng vẫn sống! Nhà văn mãi sống! Ông vừa đi câu cá bên bờ sông Cầu. Chỉ vắng nhà đúng một thôi mưa.

Từ ngày ông về với tổ tiên đến nay, bao mùa nước tràn qua mặt ruộng. Lòng người được nguôi ngoai, mắt không còn ướt nữa. Nhưng cứ đến ngày rừng dẻ vỡ hạt, đàn em lại bùi ngùi nhớ đến ông. Một người nhỏ thó tóc mốc, vừa đi vừa ôm ngực, bước năm bước lại ngồi. Đi được một quãng đường con con lại liêu xiêu đứng thở. Ông ngước lên nhìn trời. Ông hỏi trời thời nay làm người tốt sao mà khó thế? Trời thấu hiểu lòng ông. Và trời cũng đành thở dài. Trời tự biết mình bất lực. Ông bèn ngoảnh lại nhìn đàn em văn chương. Đàn em văn chương cô đơn lơ phơ ngơ ngác.

“Tôi là người miền núi... Phận sự của nhà văn miền núi là làm sao giúp cho dân tộc mình canh chừng cái ác… Người miền núi thật thà, ngây thơ nên rất dễ mắc lừa …”. Đó là lời tâm sự gan ruột của nhà văn Vi Hồng nhắc nhở anh em nhà văn người dân tộc thiểu số.

Hình như biết trước quỹ thời gian của đời mình không còn nhiều, nhà văn Vi Hồng đã dồn sức cho sáng tác. Ông chạy đua với tử thần và hình như không có cả thời gian để ăn và uống thuốc.

Cảm ơn cha Trời. Cảm ơn mẹ Đất đã ban cho ông tài năng sáng tạo văn chương. Cảm ơn nước suối nguồn bản Phai Thin đã cho ông tấm lòng khoan dung bao la. Nhưng tại sao Trời lại bắt ông phải cong người lên lấy từng hơi thở. Tại sao Đất lại bắt ông co rúm người lại trong từng cơn đau tim vật vã. Hơi thở nhà văn rung lên bao nỗi đắng cay giữa cõi làm người. Muôn năm số kiếp, ngòi bút nhà văn mãi chảy. Ông Vi Hồng ơi!

Y Phương

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.