Vết thương in bóng hình người đẹp

Khoảng dăm năm trở lại đây, thơ Việt đương đại có thêm một giọng nữ mới. Đó là Tạ Anh Thư, hiện đang sống và làm việc tại Bình Dương. Sau tập thơ đầu tay “Người lạ” (NXB Thanh niên, 2017), Tạ Anh Thư tiếp tục khẳng định phong cách thơ qua tập thứ hai: “Người có sẵn lòng mang vết thương” (NXB Văn hóa Văn nghệ, 2018).

Ở tập thơ mới gồm 56 bài này, ngoài sự vững vàng về bút pháp, còn là sự dụng công nghệ thuật cũng như việc mở rộng của phạm vi đề tài.

Ngay từ tên tập thơ đã gieo vào lòng ta một nỗi bâng khuâng, một khát vọng chia sẻ, một cách giãi bày như muốn mở lòng mình và chờ đợi. Có thể hiểu người làm thơ nói với người mình yêu, mà cũng có thể hiểu nữ sĩ đang nói với mỗi độc giả của mình: “Người biết đấy trần gian tất bật/ Người ấp ôm những chuyện phi thường/ Roi đời vốn chẳng nương kẻ mộng/ Người có sẵn lòng mang vết thương”.

Một bài thơ rồi cho đến nhiều bài thơ, viết ra được đón nhận, tìm được những tri kỷ trong cõi nhân gian, người viết còn mong gì hơn thế nữa. Người làm thơ vốn dĩ đã mang một trái tim nhạy cảm và rất dễ tổn thương: “Nàng dịu dàng/ Chạm những vết thương tôi đang mang/ Bằng những ngón tay có màu bạch trà/ Những ngón tay hay là những cánh hoa/ Tôi cũng không biết nữa” (Ngủ mơ). Vậy là vết thương còn đến trong những bài thơ khác của Tạ Anh Thư, hiện vào cả giấc mơ.

Nữ tác giả Tạ Anh Thư.
Nữ tác giả Tạ Anh Thư.

Tất cả mọi người phụ nữ trong thơ Tạ Anh Thư đều đẹp. Những vẻ đẹp ấy, đa số nằm trong sự chờ đợi thao thiết, mong ngóng khắc khoải về một tình yêu chưa thành. Vẻ đẹp ấy mang trong mình nhiều trống vắng và thổn thức: “Em đứng đợi anh, tựa cửa/ Ngoài kia mây trôi em trôi/ Giá mà dửng dưng hơn nữa/ Để đau cho đến hết đời” (Em đứng đợi anh, tựa cửa), “Thành phố này/ Một ngày chỉ còn em và mây/ Anh đã đi đâu đó” (Thành phố này), “Bàn tay trần/ Cả những lúc trong mơ/ không kiếm tìm của cải/ bàn tay/ chỉ tìm tay anh mãi/ để/ trong tay” (Bàn tay trần).

Vẻ đẹp ấy cao sang mà lặng lẽ, cô đơn: “Nàng đặt một bông hồng vàng lên cửa sổ/ chiều lặn dần/ sau những hàng cây/ nàng đặt một bông hồng vàng lên cửa sổ/ có một người/ chân đã bước từ đây” (Nàng đặt một bông hồng vàng lên cửa sổ).

Vẻ đẹp ấy có khi buồn tủi: “Thôi thương em/ Anh đừng trú thêm trong óc trong tim/ khổ thân em cứ đi tìm/ bọn chữ cái lặng im/ mà em/ không thể nhớ gì thêm/ Một cơn mưa buồn chưa được gọi tên/ đợi mãi” (Gọi tên một cơn mưa buồn). Nếu có chút ít hạnh phúc thì hạnh phúc cũng thường qua mau và đan xen nhiều xa xót: Một sớm mai/ Trên gương mặt em/ Không còn giọt mưa đêm/ Chỉ còn bồng bềnh biển cả/ Mình đã cùng nhau đi qua những ngày này/ thiết tha và nhiều đau đớn quá/ đủ cho trời đầy mây/ đủ buông một vòng tay (Về em).

Những đợi chờ của người phụ nữ trong thơ Tạ Anh Thư có khi đầy rạo rực, đam mê, ẩn chứa khát khao giao cảm cháy bỏng: “Trốn vào em/ Một vũ trụ khác mà anh chưa từng biết/ Chẳng có vụ nổ nào/ Chẳng có trăng và sao/ Càng không có lỗ đen/ Để mà mất hút (…) Có gì đâu mà anh sợ/ Em làm bằng nguyên sơ/ Để đợi những bất ngờ/ anh/ nhào nặn” (Có gì đâu mà anh sợ).

Tập thơ còn có ba bài với lời đề tặng dành riêng cho những người nữ. Đó là các bài “Yêu hoa vì hoa sẽ tàn” (Tặng Trang K), “Cứ thơ như em thơ” (Tặng nàng Quỳnh Scarlett) và “Rừng đêm” (Viết cho Tricia Nguyễn).

Ba bài, mỗi bài là một vẻ đẹp khác nhau của người nữ. Bài thì buồn thương lộng lẫy, bài thì trong trẻo ngây thơ, bài thì bao dung che chở. Tựu trung lại, hết thảy đều là những tụng ca về một vẻ đẹp mang tính bản thể và muôn đời: “Thở đi/ Em có nghe lá thầm thì/ Từ trong sâu thẳm của cành của cội/ Rễ ta bám vào bóng tối/ Đỡ lấy những giờ sám hối/tái sinh” (Rừng đêm).

Như trên đã nói, thơ Tạ Anh Thư không chỉ có tình yêu đôi lứa. Cô thương những hàng cây của thành phố nay đã không còn: “Chúng mình không còn ở đấy nữa/ mà bài ca/ sao cứ thương mãi con chim sẻ nâu ngơ ngác/ chiếc tổ bé xinh tan tác/ cánh chim lưu vong/ vòm trời” (Sao mình yêu mà lại phải lặng thinh).

Tạ Anh Thư viết về những người lính đã nằm xuống bằng một cách rất riêng. Với cô, họ vẫn mãi thuộc về tuổi trẻ và tình yêu, vẫn đầy những giao cảm với đời sống, với những người thiếu nữ mà cô đem chính mình ra để làm một xác tín: “Còn âm thanh đại bác vang rền/ Hay là màu hỏa châu đêm đêm/ Em hãy để gió mang đi xa thêm/ Đến một nơi không còn ai nhớ/ Anh không muốn trong những cơn mơ/ Có thêm một người mẹ già nức nở/ Hãy vẫy chiếc khăn màu xanh khi em đến/ Trước nấm mồ vô danh/ Như một lời chào, cho riêng anh” (Hãy vẫy chiếc khăn màu xanh khi em đến).

Những tác phẩm của tác giả Tạ Anh Thư.
Những tác phẩm của tác giả Tạ Anh Thư.

Chưa dừng lại ở đó, điều ngạc nhiên lớn nhất của tôi với tập thơ này nằm ở bài lục bát duy nhất của tập mang tên “Tôi nhìn tôi của ngày sau”. Tác giả diễn đạt một ý niệm triết học về thời gian bằng thể thơ nhuần nhị, mềm mại mang đậm điệu hồn dân tộc làm người đọc phải ngỡ ngàng: “Chào người – tôi của ngày sau/ Vì sao ta lại gặp nhau chốn này?/ Người từ đâu đến ngồi đây/ Hay là tạo hóa sắp bày thấy nhau (…) Một hôm tôi sẽ bạc đầu/ Dẫu tha thiết mấy cũng đâu nghĩa gì/ Tao phùng rồi lại phân ly/ Trên đầu mây trắng có gì của tôi/ Người nghe tôi nói chỉ cười/ Thoắt rồi còn lại bóng người xa xôi/ Ở trên sườn núi tôi ngồi/ Hát xong bài hát rong chơi tôi về”.

Trong một chiều sâu khác, bài “Nguyên thần” sẽ đọng lại trong mỗi chúng ta nhiều suy tư. Nữ sĩ đi tìm và đối thoại với bản thể tinh thần thiêng liêng của mình, ngập tràn những vô định, lãng du và cảm xúc thăng hoa. Nhưng sau hết, chẳng bao giờ chúng ta có thể hiểu hết chính mình: “Nguyên thần của tôi/ Người đi đâu rồi?/ Hãy tìm tôi/ Dưới những cành hồng trĩu quả/ Lần cuối nàng qua đây/ Chúng đang còn nhú lá/ Nguyên thần của tôi/ Người đi đâu rồi?/ Hãy tìm tôi/ Ở nơi mỏm đá/ Nàng để quên tiếng mình/ Một buổi chiều vội vã/ Nguyên thần của tôi/ Người đi đâu rồi?/ Hãy tìm tôi/ Nơi nàng đánh rơi/ Giọt nước mắt chói ngời/ Vào giếng nguồn xa lạ/ Tôi chẳng đi đâu cả/ Chỉ có nàng/ Mải nhìn xa quá/ Nên thành kẻ lạ/ Với tôi”.

Tạ Anh Thư khá có duyên với những thể thơ ngắn, từ bốn đến sáu chữ. Bên cạnh những bài thơ mang tính định đề, triết luận như “Không cần được yêu mến, Đừng đổ thừa vì con, Giả lập”, nhiều bài còn lại giàu nhạc tính và hình tượng: “Em đi chiều không nắng/ Hạ huyền ta đợi trăng/ Từng mùa qua sân vắng/ Ngày tháng nào ăn năn” (Hạ huyền), “Ngủ ngoan ngủ ngoan/ Nỗi buồn bé bỏng/ Mặt trăng đa đoan/ Cây sầu lẻ bóng/ Nhện giăng tơ mảnh/ Níu người muốn đi/ Ôi ngày ngắn ngủi/ Giữ sao xuân thì” (Ru).

Một điểm nhấn khác của tập là năm bài thơ văn xuôi ở phần sau cùng với các tựa đề: “Tình yêu”, “Lời khuyên”, “Nỗi buồn”, “Niềm vui”, “Trách nhiệm”. Năm đoản khúc này là những đối thoại tưởng tượng giữa gió và hoa hồng, từ đó giãi bày bao cảm xúc, suy tư về nhân sinh, kiếp người, về những chủ đề muôn đời của thi ca và cuộc sống. Có thể thấy, chất suy tưởng và tư duy triết học là điểm nổi trội ở những bài này và đó cũng là một ưu điểm của thơ Tạ Anh Thư, điều mà ta rất ít gặp ở những cây viết nữ khác.

Những đa cảm, đa đoan của hồn thơ Tạ Anh Thư để lại nhiều dư âm ngọt ngào cho người đọc… Dù cho hạnh phúc, niềm vui có ít mà mênh mang sầu muộn suy tư thì nhiều, nhưng chẳng phải nỗi buồn hay những vết thương lòng vẫn như một mặt thứ hai tất yếu của đời sống này đó sao.

Người đọc được nhận món quà thơ và thấy lòng mình rung cảm, thì chính là khi ấy, giá trị của thơ ca thêm một lần nữa được khẳng định trong đời sống. Và tôi cũng vừa kịp ghi lại xúc cảm của mình sau khi đọc xong “Người có sẵn lòng mang vết thương” của Tạ Anh Thư bằng vài vần thơ, như một sẻ chia đồng điệu: “Trời ban cho một vết thương/ Để ta đến cuối con đường tìm em/ Đợi từ ngày đợi sang đêm/ Đến khi mình lẳng lặng chìm vào mê/ Thì em bỗng đến, ô kìa/ Nhưng sao mình chẳng thể chìa tay ra/ Em ở gần, em ở xa/ Nhìn em mà ngỡ như là nhìn trăng/ Đường về mưa gió giăng giăng/ Hồn thành lá cỏ tưới bằng đêm sương/ Roi đời vốn dĩ chẳng nương/ Sẵn lòng, ta nhận vết thương vào mình...”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...