Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca

Tôi về lại thành cổ Đồ Bàn trong ngậm ngùi “Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi/ Những đền xưa đổ nát dưới thời gian”, nghe trong xa vắng vang vọng tiếng thơ của Bàn Thành tứ hữu và những nhà thơ gắn bó với xứ “đất võ trời văn” Bình Định. Để rồi mải mê chiều trên Bến My Lăng túy lúy say men rượu Bàu Đá đón trăng lên cùng bạn văn chương, tôi lại thấy chập chờn “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu...”.

Vọng vang tiếng thơ Bàn Thành tứ hữu

Hai tỉnh Phú Yên và Bình Định trước đây gần như là một. Dân gian hay gọi chung xứ Nẫu. Từ phong tục tập quán, cách ứng xử đến giọng nói y chang nhau. Khi đi xa nghe giọng nói, thật khó phân biệt đâu là người Phú Yên và đâu là người Bình Định. Cách xa chỉ gần một trăm cây số nên thời trai trẻ tôi hay từ Phú Yên ra chơi vòng quanh khắp Bình Định, trong đó có thành Đồ Bàn mà thời Tây Sơn gọi là thành Hoàng Đế.

Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca -0
Cổng thành cổ Đồ Bàn.

Thành cổ Đồ Bàn còn gọi Chà Bàn, Trà Bàn hay Vijaya (tiếng Phạn) có nghĩa thắng lợi. Đây là kinh đô của người Degar thuộc Vương quốc Chăm Pa, do vua Yangpuku Vijaya xây dựng năm 982, cũng là kinh đô cuối cùng của Vương quốc Chăm Pa. Các vua Chăm đóng đô ở đây từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Trong năm thế kỷ ấy, kinh đô Vijaya phải gánh chịu nhiều cuộc tấn công từ Đại Việt, Chân Lạp, Xiêm, Nguyên Mông.

Trận đánh diễn ra ngày 24 tháng giêng năm Đinh Tỵ 1377 tại đây, Vua Trần Duệ Tông của Đại Việt bị phục binh tử trận. Đến trận chiến mùa xuân 1471, Vua Lê Thánh Tông đánh chiếm, phá hủy thành Vijaya, bắt vua Trà Toàn của Chiêm Thành. Năm 1778, thủ lĩnh Nguyễn Nhạc của nhà Tây Sơn tự xưng Hoàng đế, đóng đô ở đây nên còn gọi là thành Hoàng Đế, mở rộng về phía đông, xây dựng nhiều công trình lớn. Đến năm 1799, thành bị quân chúa Nguyễn Ánh đánh chiếm đổi tên là thành Bình Định.

Ngày nay, thành Đồ Bàn thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn cách thành phố Quy Nhơn 27km về hướng tây bắc, trở thành một trong những di tích giá trị về nghiên cứu lịch sử quân sự và khảo cổ học. Thành Đồ Bàn cũng là nguồn cảm hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên sáng tác nên tập thơ “kinh dị” “Điêu tàn” làm rúng động phong trào Thơ mới đầu thế kỷ XX. Trong bài "Trên đường về", ông có viết:

Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng lững đưa nơi rộn rã tiếng từ quy

Nhà thơ Chế Lan Viên là một trong bốn thành viên của Bàn Thành tứ hữu, một nhóm thơ Bình Định gắn bó với thành Đồ Bàn trong phong trào Thơ mới. Bốn nhà thơ được người đương thời xem là ứng với tứ linh: Long - Hàn Mặc Tử, Lân - Yến Lan, Qui - Quách Tấn và Phụng - Chế Lan Viên. Một cách so sánh thú vị phù hợp với tính cách từng người.

Tồn tại trong gần mười năm (1936-1945), Bàn Thành tứ hữu đã trình làng nhiều tập thơ có giá trị gây tiếng vang như: "Thơ điên" của Hàn Mặc Tử, "Điêu tàn" của Chế Lan Viên, "Bến My Lăng" của Yến Lan, "Mùa cổ điển" của Quách Tấn...

Từ nhóm thơ Bàn Thành tứ hữu, do khuynh hướng sáng tác đã có ba thành viên là Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên hình thành nên Trường thơ Loạn. Và trường thơ độc đáo này còn tiếp nhận thêm các nhà thơ từ khắp nơi cùng tham gia: Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao... Riêng nhà thơ Bích Khê, trước đó từ Thu Xà, Quảng Ngãi vì cô đơn đã vào gia nhập cùng bốn bạn thơ Bình Định thành nhóm Ngũ hành, động viên hỗ trợ nhau sáng tác, rồi trở thành gương mặt sáng giá của Trường thơ Loạn.

Sau khi nhà thơ Hàn Mặc Tử bị bệnh phong qua đời khi mới 28 tuổi vào ngày 11/11/1940, chẳng bao lâu sau nhà thơ Bích Khê lâm bệnh lao chuyển nặng. Các bạn thơ Bình Định góp tiền đưa Bích Khê vào ở Xóm Củi, Nha Trang để ở trọ chữa bệnh. Một thời gian sau, vì ngại lòng tốt bạn thơ, nhà thơ Bích Khê đã lặng lẽ bỏ ra đi, nhưng nhà thơ Nguyễn Đình đã tìm lại được. Cả nhóm quyết định đưa Bích Khê ra Huế chữa trị và an dưỡng, với số tiền quyên góp hàng tháng tùy khả năng từng người.

Theo bà Lâm Bích Thủy, trong bài viết "Sự thật về nhóm thơ: Bàn Thành tứ hữu" ghi lại lời kể của cha mình là nhà thơ Yến Lan, “Chú Chế Lan Viên phải nuôi cha mẹ góp 10 đồng, bác Quách Tấn 20 đồng, chú Nguyễn Đình 20 đồng, vì không vướng bận gì nên ba tôi góp 30 đồng. Như vậy mỗi tháng nhà thơ Bích Khê nhận được 80 đồng, theo tôi biết đó là số tiền rất lớn, cơm tháng hồi đó chỉ có 4 đồng. Tất cả việc thu và gửi tiền ra Bệnh viện Paskiê cho chú Bích Khê đều do vợ bác Tấn đảm nhận”.

Trường hợp nhà thơ Xuân Diệu quê ở Gò Bồi, Bình Định thì sao? Cũng theo bà Lâm Bích Thủy, tuy xuất thân và trưởng thành ở đây, nhưng nhà thơ Xuân Diệu ban đầu không tham gia nhóm thơ quê hương. Nhà thơ Quách Tấn từng nói vui: “Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách, từ biệt quê hương để ra Hà Nội bắt tay với Huy Cận lập thành nhóm Huy - Xuân”.

Về sau nhà thơ Xuân Diệu mới từ đất Bắc trở về Bình Định gia nhập vào nhóm Ngũ hành thành nhóm Lục căn (Nhãn - Nhỉ - Tỷ - Thiệt - Thân - Ý). Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử mà nhóm Lục căn cũng như bí danh tương ứng từng người trong nhóm không được nói tới.

Bến Trường Thi dệt “Bến My Lăng”

Về đất võ trời văn Bình Định, ngay sáng sớm đầu tiên chúng tôi lên thăm mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử và vòng quanh khu du lịch Gành Ráng ở Quy Nhơn. Ngôi mộ thi sĩ được xây khang trang trong một không gian nhiều tre trúc như trong thơ ông, thường xuyên có người đến viếng, đặt nhiều hoa. Sau bao thăng trầm, sự nghiệp thi ca của ông đã được trả về đúng giá trị, và tình yêu cuộc đời dành cho thi nhân mãi tươi xanh như hoa lá vây quanh ông.

Về thành cổ Đồ Bàn nhớ những tài năng thi ca -1
Con voi đá trước cổng thành cổ Đồ Bàn.

Tiếp đó, chúng tôi về dâng hương Nhà lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu ở Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước. Quê nội ông ở Hà Tĩnh. Đây là quê ngoại nơi ông sinh ra. Như trong bài thơ "Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong" nhà thơ đã viết:

Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.

Nhà lưu niệm Xuân Diệu được xây dựng khang trang trên nền nhà cũ của ông bà ngoại gắn liền với tuổi thơ của tác giả "Thơ thơ, Gửi hương cho gió". Một không gian thi vị. Mỗi đồ vật là một câu chuyện đầy cảm xúc. Giếng nước rêu phong thời gian. Cây khế cổ thụ. Cây mận quanh năm sai trĩu quả. Cây sứ trắng được trồng bởi người bạn thân nhất là nhà thơ Huy Cận. Phòng trưng bày nhiều sách ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của “Ông hoàng thơ tình”. Các nhà thơ và những người yêu thơ Xuân Diệu hay về đây thăm viếng.

Buổi chiều, chúng tôi lên An Nhơn dâng hương nhà thơ Yến Lan. Nhiều đoàn khách cũng vừa về đây tưởng nhớ tác giả "Bến My Lăng". Sau khi lên tầng thượng ngôi nhà thắp hương cho nhà thơ Yến Lan, chúng tôi được cô con gái út của ông mời ăn những loại chè do chị nấu bán trước nhà. Tôi chợt nhớ ngôi nhà của bà Mộng Cầm người yêu nhà thơ Hàn Mặc Tử bây giờ cũng thành quán chè nổi tiếng ở Phan Thiết.

Bình Định là tên gọi của tỉnh mà cũng là địa danh của thị trấn nhỏ này, gắn với hình ảnh “Tỉnh nhỏ/ cô em/ Nằm xem/ kiếm hiệp” diệu vợi trong thơ Yến Lan. Ngôi nhà cấp bốn của nhà thơ Yến Lan đã được con cháu xây dựng thành nhà cao tầng và tầng thứ 4 trên cùng để dành thờ vợ chồng ông và lưu giữ những kỷ vật của thi sĩ. Nhà nằm đối diện với chợ, cạnh ngôi chùa dưới bóng cổ thụ từng gắn bó nhiều kỷ niệm với nhà thơ Yến Lan nhưng về sau chùa đã bị phá bỏ để xây dựng trụ sở của thị trấn.

Ngôi chùa cổ bị phá bỏ nhưng may còn bến Trường Thi bên dòng sông Cửa Tiền mà nhà thơ Yến Lan dệt nên "Bến My Lăng" bất tử, chỉ có cây cầu tre lắt lẻo bắc qua sông ngày xưa giờ đã được thay bằng cầu mới xi măng. Chùa bị phá nhưng bến sông vẫn còn vì sông chưa bị lấp, mà cũng khó lấp được vì dòng sông sâu rộng nằm ở vùng quê xa chứ đâu phải ở giữa thành phố đất vàng mà lấp.

Nhờ đó, bên dòng sông tạo nên "Bến My Lăng" huyền thoại, chúng tôi đã có một buổi chiều ngắm hoàng hôn trên sông chờ trăng lên, nâng ly rượu Bàu Đá trong tình bạn thơ ấm áp với những món ăn đặc sản của quê hương nhà thơ Yến Lan. Bên kia sông, một chiếc thuyền của ai đó cắm sào bên hàng tre mờ sương mang vẻ đẹp kỳ ảo như thơ ông viết:

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu...

Phan Hoàng

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.