Về một người thầy dạy văn đã khuất

Nhà giáo Cao Văn Tín (1955-2018) là thầy dạy môn Văn cho tôi ở bậc trung học cơ sở. Ấn tượng đầu tiên của tôi về nhà giáo Cao Văn Tín là một người thầy có vóc dáng bệ vệ, nụ cười đôn hậu và đôi mắt khắc khoải buồn. Thế nhưng, ấn tượng sâu sắc nhất của tôi về nhà giáo Cao Văn Tín là một người thầy đã đọc thơ minh họa cho bài giảng.

Tôi còn nhớ, buổi giảng văn "Người thiếu phụ Nam Xương", nhà giáo Cao Văn Tín đã đọc một bài thơ liên quan đến câu chuyện, khiến học trò chúng tôi rất thích thú. Hết giờ học, tôi chạy theo hỏi: "Bài thơ của thầy, phải không ạ?". Nhà giáo Cao Văn Tín chỉ cười nhè nhẹ. Lúc ấy, tôi đã hơi nghi ngờ nhà giáo Cao Văn Tín là một thi sĩ, nhưng chỉ đành "kính nhi viễn chi".

Nhà giáo Cao Văn Tín có một cách dạy Văn rất kỳ lạ. Mỗi tiết học, ông thong dong lên lớp với hai bàn tay không. Chẳng có giáo án, cũng chẳng có tài liệu gì. Ban đầu, đám học sinh lớp 9 chúng tôi rất ngỡ ngàng và rất âu lo, vì năm cuối bậc trung học cơ sở phải chuẩn bị thi chuyển cấp. Thế nhưng, khi bước vào giờ học của thầy thì cực kỳ hào hứng. 

Mỗi bài giảng văn, thầy cho cả lớp đọc qua một lần, rồi chia ra hai nhóm, một nhóm đọc lời văn dẫn dắt câu chuyện, còn một nhóm đọc lời thoại của nhân vật trong tác phẩm. Nhờ vậy, hầu như tất cả đều nắm bắt được nội dung và tình tiết của tác phẩm ngay tại lớp.

Nhà giáo Cao Văn Tín.
Nhà giáo Cao Văn Tín.

Học là vậy, còn thi cũng khá độc đáo. Nhà giáo Cao Văn Tín tuyên bố: "Thầy không cần các em viết dông dài, vì thầy không đếm chữ để chấm điểm. Các em chỉ cần viết đúng cảm nhận của các em về tác phẩm thôi. Em nào học thuộc lòng văn mẫu để chép ra, thì chỉ được tối đa 5 điểm, bởi lẽ đó không phải bài làm của em ấy!". Nghĩa là thái độ khước từ văn mẫu của nhà giáo Cao Văn Tín đã xuất hiện từ 30 năm trước đây. Khi nền giáo dục nước ta bắt đầu lên án văn mẫu, thì tôi càng thấm thía quan niệm cởi mở và tiến bộ của nhà giáo Cao Văn Tín những ngày dạy dỗ chúng tôi.

Tôi vẫn còn nhớ như in, về lần tôi được nhà giáo Cao Văn Tín cho 10 điểm môn Văn. Lần thứ nhất, làm bài luận về "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ", tôi viết khá ngắn nhưng có trích dẫn thêm một số câu thơ không nằm trong tác phẩm để chứng minh ý nghĩa của thơ Nguyễn Khoa Điềm và thầy phê bên cạnh điểm 10 rằng "Biết nỗ lực tìm hiểu thêm về tác giả trong sách giáo khoa".   

Nhà giáo Cao Văn Tín không chỉ khuyên học trò rời xa văn mẫu, mà ông còn chủ động khuyến khích học trò sáng tạo. Sau khi giảng giải cho chúng tôi về cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm, ông thường hỏi: "Các em có hài lòng với cái kết của tác giả không? Nếu chưa hài lòng, thì các em muốn nhân vật chính sẽ hành động như thế nào?". Và thay vì bắt chúng tôi viết bài luận về truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long, nhà giáo Cao Văn Tín đã yêu cầu chúng tôi viết tiếp câu chuyện theo ý mỗi người.

Tôi vào đời, theo nghề cầm bút. Thỉnh thoảng có dịp gặp lại nhà giáo Cao Văn Tín ở quê nhà Phú Yên, tôi luôn kèm theo câu hỏi mỗi khi chào thầy cũ: "Dạo này thầy có viết gì không?". Nhà giáo Cao Văn Tín chỉ cười nhè nhẹ như năm xưa. Thế nhưng, tôi cũng đã đủ khôn lớn để nhìn theo dáng đi của thầy cũ trước những phút giây hạnh ngộ vội vàng. Tấm lưng to bè của nhà giáo Cao Văn Tín, vừa có vẻ ung dung vừa có vẻ nhẫn nại. Người thầy dạy văn tài hoa của tôi, đã khiêm nhường giấu mình đi vì ái ngại những bon chen danh lợi trên cuộc đời nhiều đắm say lắm cay cực chăng?

Tập thơ "Nào hay cơn gió vô tình" của cố nhà giáo Cao Văn Tín.
Tập thơ "Nào hay cơn gió vô tình" của cố nhà giáo Cao Văn Tín.

Bây giờ, nhà giáo Cao Văn Tín không còn nữa. Tôi phát hiện trong di cảo của ông có bài thơ viết về "Người thiếu phụ Nam Xương" mà ngày nào ông đã đọc cho chúng tôi nghe: "Xót xa chuyện cũ/ Thương cho má hồng/Ngày xưa mệnh bạc/ Tìm đến dòng sông/ Nước rửa sạch không/ Kiếp đời giông gió?". 

Bao nhiêu năm qua, nhà giáo Cao Văn Tín vẫn lặng lẽ làm thơ, những câu thơ vỗ về và an ủi, những câu thơ nhẹ nhàng và mát lành. Tôi nghẹn ngào đọc thơ của thầy giáo cũ, để hiểu thêm tấm lưng to bè vừa có vẻ ung dung vừa có vẻ nhẫn nại: "Tôi không nghe tiếng thương khóc nỉ non/ Tôi không nghe lời bi ai huyền thoại/ Tôi chỉ thấy cái cò cúm rúm, co ro, cam chịu đến nao lòng".

Nhà giáo Cao Văn Tín nối nghiệp cha mình để bước lên bục giảng, có cả niềm tự hào và có cả nỗi băn khoăn: "Bước vào nghề/ Lắm chông chênh/ Cũng là số phận/ Gập ghềnh mà thôi". Vượt lên mọi thử thách và mọi ngổn ngang, nhà giáo Cao Văn Tín vẫn có được những tháng năm trọn vẹn với phấn trắng bảng đen, với đồng nghiệp và học trò: "Cuộc đời đâu là mơ/ Ân tình đâu là thơ/ Tôi vẫn chờ vẫn đợi/ Tôi cứ dại và mơ".

Nhà giáo Cao Văn Tín rất yêu nghề dạy học, nhưng ông không miễn cưỡng buộc hai đứa con của mình sống theo ý mình. Khi hai đứa con trai đi theo con đường kinh doanh, ông ủng hộ rất nhiệt tình. Thỉnh thoảng ông mua vài cuốn sách để tặng con với lời nhắc nhở ân cần: "Bổ sung giá trị tinh thần cũng cần thiết như kiếm tìm giá trị vật chất"!

Nhà giáo Cao Văn Tín làm thơ nhiều nhất ở giai đoạn chống chọi với bạo bệnh. Ông đã tựa vào gia đình và thi ca để đối mặt định mệnh trớ trêu, đúng như một ghi chú của ông: "Buổi chiều, được tin khối u giảm nhiều, không di căn. Mừng quá, và thơ ra đời". Ở lằn ranh sinh tử, phẩm chất thi sĩ của nhà giáo Cao Văn Tín đã hiển lộ khá đầy đủ. Ông nhận ra "sông cũng nằm chờ/ mây qua đầu ngõ" để thảng thốt "Đời đìu hiu mờ tối/ Tự bó gối mà thôi/ Bay ngang qua đỉnh trời/ Ta biến thành giọt lệ".

Hơn 200 bài thơ trong di cảo của nhà giáo Cao Văn Tín, khiến tôi giật mình. Ông đích thực là một nhà thơ. Ông có những câu thơ thật run rẩy "áo đỏ em ngồi/ bối rối tầm xuân", và ông có những câu thơ liên tưởng xa rộng "thuyền xa bờ, gió đẩy biển về đâu". Cảm giác thường xuyên xuất hiện nhất trong nhà giáo - nhà thơ Cao Văn Tín chính là sự bịn rịn xen lẫn hoang mang: "Đường trăng/ Mùa cũ xa mờ/ Chỉ nghe tiếng thở/ Bên bờ vọng sang".

Nhà giáo - nhà thơ Cao Văn Tín bộc bạch: "Tôi tự tôi một cánh diều/ Thả lên từ bé với nhiều ước mơ/ Thế là tôi nợ cơn mê/ Ngay từ khi kéo diều về với tôi/ Bồng bềnh nhìn đám mây trôi/ Bồng bềnh ráng đỏ bên trời hắt hiu/ Trên cao tiếng nhạn kêu chiều/ Trần gian tôi nợ ít nhiều hoàng hôn". Ông tự thú "nợ cơn mê" và "nợ ít nhiều hoàng hôn", còn tôi và nhiều người khác đã nợ ông một bẽ bàng: Chúng tôi đi qua cuộc đời nhà giáo - nhà thơ Cao Văn Tín mà không hay biết mình đã thờ ơ với một tâm hồn cao đẹp "đu đưa theo cánh võng/ nghĩ thương người long đong". Chúng tôi đã dửng dưng và hấp tấp, không có cơ hội chia sẻ những phẩm chất thi sĩ của ông khi ông tại thế.

Thế nhưng, với tập thơ "Nào hay cơn gió vô tình" do Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ vừa ấn hành, tôi tin nhà giáo - nhà thơ Cao Văn Tín sẽ còn ở lại với cõi nhân gian, sẽ còn ở lại với bao nhiêu bạn bè và học trò của ông. Bởi lẽ, tấm lưng to bè vừa có vẻ ung dung vừa có vẻ nhẫn nại của ông dù đã chìm vào kỷ niệm mù khơi, vẫn gửi lại một tấm lòng trìu mến: "Này em, cơn gió vô tình/ Một hôm dừng lại trên cành tầm xuân/ Mây cao vây núi điệp trùng/ Riêng trăng chỉ biết ngại ngùng nhìn xa".

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.