Vẻ đẹp người Công an "quân hàm xanh" trong dòng thơ cách mạng

Trong dòng thơ cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều tác phẩm khắc họa vẻ đẹp của người chiến sĩ CAND vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng nơi địa đầu Tổ quốc.

Từ ngàn xưa, trong quá trình mở cõi và gìn giữ giang sơn, cha ông ta đã đặc biệt chú trọng đến công việc đại sự bảo vệ biên cương của đất nước. Và lẽ hiển nhiên, biên giới cũng được coi là một phạm trù thiêng liêng trong tâm thức mọi con dân đất Việt. Một số làn điệu ca trù, chèo, vọng cổ… từ xa xưa cũng đã dựng các tuồng tích đề cập đến vấn đề biên giới, về tình nghĩa giữa hậu phương và người đi trấn thủ chốn địa đầu.

Đặc biệt, trong dòng thơ cách mạng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có nhiều tác phẩm khắc họa vẻ đẹp của người chiến sĩ CAND vũ trang, nay là Bộ đội Biên phòng nơi địa đầu Tổ quốc.

b%3f tru%3fng tr%3fn qu%3fc hoàn tham công an nhân dân vu trang t%3fnh l%3fng son nam 1962.jpg -0
Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn thăm Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lạng Sơn năm 1962.

Những chiến sĩ CAND vũ trang luôn có một niềm tự hào về bộ quân hàm, cầu vai nền màu xanh lá cây, màu tượng trưng cho núi rừng, biển cả và đồng lúa xanh tươi mát do đích thân Bác Hồ lựa chọn từ ngày đầu thành lập vào mùa xuân năm 1959. Đó cũng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, Mỹ, nguỵ tăng cường bắn phá, tung gián điệp, biệt kích xâm nhập biên giới bờ biển và kích động nhân dân các dân tộc thiểu số bỏ bản làng vào rừng sinh sống, nổi phỉ xưng vương.

Trong hoàn cảnh vừa chiến đấu, vừa xây dựng tổ chức biên chế, toàn lực lượng đều thể hiện quyết tâm tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, xứng đáng với bài thơ Bác tặng khi Người đến dự Đại hội chiến sĩ thi đua lần thứ nhất, năm 1962: “Những chiến sĩ Công an nhớ mãi lời thơ Bác: “Non xanh nước biếc trùng trùng/ Giữ gìn Tổ quốc ta không ngại ngùng gian lao/ Núi cao sự nghiệp càng cao/ Biển sâu chí khí ta so vào càng sâu/ Thi đua ta quyết giật cờ đầu/ Trong lịch sử bốn ngàn năm đây những ngày đẹp nhất…”. ("Việt Nam đất nước những mùa xuân" - Chế Lan Viên). Và có lẽ, năm câu thơ của Hồ Chủ tịch cũng là một trong những bài thơ đầu tiên về những chiến sĩ “vệ binh quốc gia” này.

Những năm tháng cả nước cùng đánh giặc, dưới sự chỉ đạo của Đảng đoàn Bộ Công an, CAND vũ trang đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng và những mục tiêu trọng yếu, những chiến sĩ cận vệ Bác Hồ biết mấy tự hào: “Đêm nay Phủ Chủ tịch sáng ngời/ Trên rặng nhãn gió sông Hồng dậy sớm… Mỗi bước đi dẫu chớp bể mưa nguồn/ Thương Bác áo bông bạc màu giản dị/ Khi chúng cháu được làm người cận vệ/ Có máy sưởi nào ấm hơn tình Bác mênh mông/ Đêm nay cửa sổ tầng cao lắng gió sông Hồng/ Cũng đăm đăm canh trời xa không chớp/ Tháng Năm về, cả dân tộc đi vào phiên gác/ Giữ trái thơm hạnh phúc Bác dành cho”. ("Phiên gác tháng Năm" - Phan Trọng Bằng).

Trên đỉnh cao biên giới, hình ảnh các anh đẹp đến nao lòng: “Những chiến sĩ Biên phòng/ Đứng chon von giữa trời biên giới/ Chân đạp mây bay, tóc vờn gió núi/ Ngày mù sương tơ tưởng một bến đò... ("Đáng sống biết bao một ngày vì cách mạng" - Lưu Trùng Dương, 1964). Và rồi chính họ cũng đã hòa thành vẻ đẹp của mùa xuân biên giới: “Xuân đi giữa biên cương/ Mưa phùn giăng giăng ngang suối/ Rừng trắng phấn măng gửi tặng em năm mới/ Mà anh như gió xuân không mỏi/ Chở đầy hương núi, hương hoa…”. ("Mùa xuân" - Dương Kiềm).

Đến với biên cương xa xôi, các anh dùng cây làm nhà, dựng tre thành chòi canh, vọng gác, bám dân, bám địa bàn tiến hành vận động nhân dân định canh, định cư, xây dựng hợp tác xã, xây dựng đời sống mới: “Cha Lo thăm thẳm rừng cây/ Yêu quê, yêu nước dân đây một lòng/ Có anh chiến sĩ Biên phòng/ Biến đèo thành trạm, biến rừng thành nương/ Cha Lo chín khúc tình thương/ Nói lên tiếng nói chiến trường xôn xao/ Có anh lên tận thác cao/ Sát lưng cùng với đồng bào đấu tranh…”. ("Đường lên Cha Lo" - Nguyễn Xuân Xanh, 1966).

Các anh mưu lược, anh dũng đấu tranh với bọn biệt kích, thám báo: “Nơi tiền tiêu nắng dãi mưa dầu/ Tay súng các anh giữ từng tấc đất/ Một ngọn cỏ cũng không thể mất/ Một cánh chim không thể lạc đàn/ Cột mốc phủ rêu thời gian/ Nhánh đường mòn từ lâu phân định/ Đập nát âm mưu của kẻ thù toan tính/ Quét chúng trước chiến hào như quét lá khô/ Biên giới ta lồng lộng bóng cờ/ Màu đỏ như mặt trời/ Thế đấy!”. ("Phía sau các anh" - Tạ Hữu Yên, 1972).

chi%3fn si công an nhân dân vu trang ti%3fp qu%3fn sân bay ðà n%3fng.jpg -1
Chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang tiếp quản Sân bay Đà Nẵng.

Những đêm canh giữ biển trời, người chiến sĩ CAND vũ trang nhận biết thêm bao điều mới mẻ: “Ngày nay anh biết quê ta lớn/ Mỗi bước chân trời mỗi rộng thêm/ Theo tàu mỗi bận anh ra biển/ Lại nhớ đêm dừng chuyến muối lên/ Đêm nay tàu lại đi tuần biển/ Anh đếm sao lên bỗng nhớ nhà/ Bỗng nhớ rừng xa em đứng gác/ Dưới trời… ta giữ đất quê ta”. ("Giữ biển" - Trần Hữu Tòng, 1964), hay: “Âm thanh bộn bề vọng gác tiền tiêu/ Tôi thường lắng nghe mỗi lần vào phiên gác/ Hơi thở quê hương ngọt ngào trong sóng nước/ Cuộc sống mỗi ngày sinh sôi/ Và tình yêu nảy nở trong tôi!”.  ("Âm thanh" - Hồ Đức Tăng, 1965).

Trên con đường Trường Sơn huyền thoại, những đồn trạm CAND vũ trang đã trở thành điểm tựa, cùng bộ đội Trường Sơn chiến đấu bảo vệ tuyến đường: “Phá núi mở đường ta thi với giặc/ Ngang trạm tiền tiêu có anh lính gác/ Cổng chắn đường nghiêng đổ, dựng liền tay/ Sáng đánh bên kia chiều chuyển bên này/ Bom vây dày không hề nao núng/ Gan góc Trường Sơn tầng tầng lửa dựng…” ("Lá thư xa" - Lương Sỹ Cầm, 1968).

Trên trận tuyến pháo phòng không, họ cùng nhân dân tạo nên lưới lửa ngăn máy bay của kẻ thù xâm nhập: “Hai trận địa, hai mỏm đồi cát trắng/ Cách nhau mười tám hố bom/ Bên này gọi bên kia: Trận địa mười cô gái/ Bên ấy gọi bên này: Trận địa Công an/…/ Hai ngọn đồi xưa chưa mang tên/ Nay xóm mẹ gọi thành tên trận địa/ Sóng biển vỗ dạt dào, nghe gần thế/ Trận địa chúng mình nằm giữa lòng dân”. ("Hai trận địa" - Trần Quốc Huấn, 1972).

Rồi từ con đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đồng đội của họ, những chiến sĩ an ninh vũ trang miền Nam lên đường ra tiền tuyến: “Từ cửa gió này ta xuyên Trường Sơn/ Ta chốt điểm cao, ta chia rừng phục kích/ Đường tuần tra đâu mùa chiến dịch/ Chiến dịch bốn mùa và thế trận bao la…”. ("Cửa gió Tùng Chinh" - Đào Nguyên Bảo).

Đất nước thống nhất chưa được bao lâu, biên cương lại ầm vang tiếng súng, những chiến sĩ CAND vũ trang lại đứng trên tuyến đầu chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc. Trong điều kiện chiến đấu ác liệt, trăm bề thiếu khó, họ vẫn lạc quan, tin tưởng: “Gọi là đồn - đồn không có nhà/ Đóng trong rừng, rừng trên phù sa/ Đầm lầy bao la là trận tuyến… Rừng sú, rừng đước hóa rừng chông nhọn sắc/ Bãi phù sa cài bẫy đón quân thù/ Từ đầm lầy ta mở rộng chiến khu…”. ("Điểm chốt trên đầm lầy" - Vũ Ngọc Khôi, 1977), hay: “Thức dậy bình minh/ Thắp sáng căn hầm, ụ súng/ Cấu kiện trên đồi trụ vững trên vai/ Sức mạnh dồn lên cơ bắp/ Gió biên giới thổi căng lồng ngực/ Dốc đồi cao nén tiếng cường vui/ Thấy mặt trời trong giọt mồ hôi/ Ngọn gió luồn sâu vào lòng đất/ Đồng đội nhìn nhau thấy ngôi sao trong mắt/ Những ngôi sao có thật/ Như đường đồi mòn vẹt dấu bàn chân/ Như Tổ quốc ta chiến thắng đến ba lần…”. ("Đường biên chạy dọc" - Nguyễn Trung Kiên, 1979).

Những vẻ đẹp giản dị và bi tráng đó đã được đồng chí Lê Đức Thọ ghi lại bằng thơ sau một lần đến thăm chốt canh biên giới: “Tôi nhớ buổi chiều anh cõng tôi lên/ Chân tôi yếu không thể nào leo hết dốc/ Mỗi bước anh đi tôi đếm từng nhịp thở/ Hai trái tim thì thầm to nhỏ/ Hơi ấm lưng anh sưởi ấm cả lòng tôi”; “Nói đến đây anh bỗng cười xòa/ Đất nước khó khăn, quân thù còn đó… Ôi hồn anh là tâm hồn thời đại/ Còn khó khăn nào hơn thế nữa không anh”. ("Điểm tựa" - Lê Đức Thọ, 1981).

Có thể nói, trong dòng chảy của thơ ca cách mạng, thơ về người chiến sĩ CAND vũ trang có những dấu ấn với âm hưởng đặc biệt bởi biên giới là nơi hai từ Tổ quốc luôn được nhắc đến một cách thiêng liêng và trìu mến. Các thế hệ chiến sĩ biên phòng luôn xác định: “Chúng tôi nối biên cương bằng lũy thép biên phòng/ Nối quê hương bằng niềm tin vào Đảng/ Với Tổ quốc chúng tôi là cột mốc/ Với chúng tôi Tổ quốc là điểm tựa ngàn đời”. ("Tổ quốc, biên giới và người chiến sĩ Biên phòng" - Vũ Hiệp Bình). Và tâm thế ấy, vẻ đẹp ấy qua lấp lánh những vần thơ đã tỏa sáng và có sức lay động lớn.

Phạm Thị Vân Anh

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.