"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Đời Chiến Quốc, nước Ngụy và nước Tề mâu thuẫn. Biết Bàng Quyên tướng nước Ngụy sắp hạ được nước Hàn, tướng Tề là Tôn Tẫn phao tin sẽ tấn công nước Ngụy. Nghe tin nguy cấp, Bàng Quyên rút quân về cứu Ngụy. Thế là hỏng một việc lớn. Khi Bàng Quyên truy kích quân Tề, Tôn Tẫn lại dùng kế "giảm bếp".

Đếm số lượng bếp ăn, Bàng Quyên ước đoán ngày đầu quân Tề có mười vạn. Ngày thứ hai đếm bếp, Bàng Quyên đoán Tề còn năm vạn. Đến ngày thứ ba ước còn ba vạn. Đắc ý cho rằng quân Tề thối chí, trong ba ngày mà lính đào thoát quá nửa, Bàng Quyên quyết ngày đêm truy đuổi, liền rơi vào bẫy…

image001.jpg -0
Hình ảnh Khổng Minh ngồi xe lăn ra trận cũng là một cách "tung hỏa mù"!

Có "giảm" thì cũng có "tăng". Thời Tam quốc, Khổng Minh cầm quân phạt Ngụy… Hậu chúa nhà Thục nghe lời gièm pha nghi Khổng Minh làm phản, liền giáng chiếu triệu Khổng Minh rút quân về. Ngậm đắng nuốt cay, đang ở thế có lợi, Khổng Minh đành chia quân làm 5 tốp rút dần. Cứ ngày ngày rút bớt quân, lại đào thêm bếp.

Nghe tin quân Thục có biến, Tư Mã Ý nửa tin nửa ngờ, thân đem hơn trăm kỵ binh đến trại Thục quan sát, thấy số bếp ngày một nhiều hơn. Mã Ý bảo các tướng: Gia Cát lập mẹo giả lui, dụ địch… Khổng Minh yên ổn rút quân về Thành Đô. Hú vía. Nếu Mã Ý cho quân truy kích thì bất lợi vô cùng.

Trong "Tam quốc diễn nghĩa" có biết bao là chuyện "tung hoa mù" để lừa đối phương. Là kế "Giương Đông kích Tây", vờ đánh hướng này, thực chất đánh hướng khác; "Chỉ tang mạ hòe" (Chỉ cây dâu, mắng cây hòe), nhằm hướng này nhưng đánh hướng kia (như kiểu khẩu ngữ Việt: "Chỉ chó mắng mèo", "Lườm rau gắp thịt"); "Phao chuyên dẫn ngọc" (ném gạch để đưa ngọc đến), đưa ra miếng nhỏ, để dụ nhằm tới cái lợi lớn hơn…

Những chuyện hư hư thực thực thể hiện mưu kế, tài trí ghê gớm ấy cứ mê dụ người đọc đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đấy là một nét thi pháp để "Tam quốc diễn nghĩa" trở thành một trong "tứ đại kỳ thư" của Trung Hoa cổ, cũng là một trong những "quyển sách lớn" của nhân loại.

"Tung hỏa mù" vẫn được dùng ở thời hiện đại. Như kiểu "lộng giả thành chân" (biến giả thành thật) được Hitler áp dụng vào "tâm lý chiến": "Lời nói dối lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành sự thực". Bằng thủ đoạn này, bộ máy tuyên truyền Đức Quốc xã đã kéo cả nước Đức và một số đồng minh vào cuộc chiến.

Chiến dịch tung hỏa mù thành công nhất của Đức Quốc xã trong Thế chiến 2 là khiến phương Tây tin rằng đội quân của Hitler đang tích trữ vũ khí và 100.000 binh sĩ tại khu vực núi Alps ở miền Nam nước Đức (giáp với Áo), nhằm xây dựng thành trì cuối cùng vào mùa xuân 1945. Tin này khiến giới lãnh đạo Anh, Mỹ "mất ăn mất ngủ", vì lo ngại nước Đức sẽ kéo dài cuộc chiến nhiều năm.

Trong cuộc chạy đua vũ trang (những năm 1960), Liên Xô (cũ) đã thể hiện "Sức mạnh không giới hạn", "vượt trội" Mỹ. Năm 1965, tại Quảng trường Đỏ, một cuộc duyệt binh rầm rộ được tổ chức với các tên lửa khổng lồ mang đầu đạn hạt nhân "hủy diệt". Liên Xô tuyên truyền, đây là "một thắng lợi vẻ vang về công nghệ quân sự". Nước Mỹ "tái mặt"… Mãi sau này, phía Mỹ mới biết, đó chỉ những "mô hình" mà đối phương dựng ra. Nhưng cũng thừa nhận đã làm giới chóp bu Mỹ "đứng ngồi không yên".

Ngày nay, trong thời buổi công nghệ số phát triển, "tung hỏa mù" càng có cơ hội phát triển. Ví như trong bán hàng, giá bán không phải 10.000 VNĐ, mà chỉ 9.900 VNĐ. Đây là chiêu trò tạo ảo giác người mua: Rẻ đấy, mua đi! Thuật ngữ "điểm mù số" ra đời, cho biết tâm lý người mua sắm, ở đâu cũng vậy, đều thích rẻ và thích nhận được kèm theo một cái gì đó "miễn phí"… Thế là, ở đâu cũng vậy, xuất hiện các chương trình "miễn phí" rầm rộ.

image003.jpg -1
Cuộc duyệt binh tại Quảng trường Đỏ năm 1965.

Ngoài đời có, hẳn nhiên có trong văn chương, nhiều hơn cả trong văn học kịch hay trào phúng. Như bài ca dao "Thằng Bờm", là một câu chuyện có nhân vật, có tình huống, tình tiết, có kịch tính cao trào, có kết thúc. Đây là kết cấu đặc trưng của truyện cười dân gian: sử dụng hình thức tăng cấp và kết thúc bất ngờ, đột ngột.

Dân gian "tung hỏa mù" để người đọc "hồi hộp": bắt đầu chỉ là "cái quạt mo", phú ông đòi đổi "ba bò chín trâu", rồi "ao sâu cá mè", đến "ba bè gỗ lim" đến "bầy chim đồi mồi". Cuối cùng kết thúc đột ngột: là "nắm xôi". "Nắm xôi" chỉ "ngang giá" với "cái quạt mo". Tiếng cười bật ra từ cái "ngang giá" ấy. Câu chuyện vui vẻ, nhân vật cười, bạn đọc cười. Những nụ cười dân chủ. Thế nên khép lại là hình ảnh "Bờm cười". Ý vị và đa nghĩa.

Có dị bản viết "đôi chim đồi mồi" thì không đúng với tinh thần "tung hỏa mù" của hình thức tăng cấp tạo kịch tính. Phải là "bầy chim đồi mồi". "Chim đồi mồi" là gì? Là chim giả khắc bằng đồi mồi - con vật quý sống ngoài biển, nên "chim đồi mồi" là biểu tượng cho sự quý phái của nhà giàu thời trước. Có cả một "bầy chim đồi mồi" thì phải thật giàu sang rồi! Những "đòi đổi" trước chỉ mang giá trị vật chất, đến "bầy chim đồi mồi" là cả vật chất và tinh thần, tức cao nhất.

Tại sao lại gọi "thằng Bờm"? Có một cách hiểu: ngày xưa trẻ trai thường cạo đầu, để chừa lại một chòm tóc phía trên trán gần giữa đỉnh đầu, để che thóp, tránh gió. Chòm tóc này giống như bờm ngựa nên dân gian gọi vui là "thằng bờm". Từ này đi vào văn hóa Việt mang tính nước đôi, chỉ những người ít tuổi, ngờ nghệch, khờ khạo nhưng cũng lém lỉnh, tinh ranh, nghịch ngợm (như trẻ con vậy!). Thế nên hiểu "Bờm" khờ khạo, ngờ nghệch, "trẻ người non dạ" mới chỉ là một phương diện tính cách mà thôi.

Bước vào sân khấu dân gian, nhất là rối nước, "Bờm" trở thành "chú Tễu". "Lưỡng tính" (cũng là một dạng "hỏa mù"), nên "thằng Bờm" trở thành "biểu tượng hai mặt", vừa đáng yêu vừa đáng ghét, vừa khôn vừa dại, vừa trí tuệ, dí dỏm vừa ngờ nghệch, ngốc nghếch. Trong thế giới truyện dân gian, nhân vật phú ông cũng "lưỡng tính" như vậy, không chỉ bủn xỉn, keo kiệt, ác bá mà còn là hào phóng, xởi lởi, tốt bụng...

Trong văn học viết trước 1945, người "tung hỏa mù" giỏi nhất là Nguyễn Công Hoan. Nhờ "chiêu độc" này, truyện của ông hấp dẫn, độc giả thích thú đi theo cái "bịa như thật". Mở đầu truyện “Đồng hào có ma” là lời "công kích": "Tôi cực lực công kích sách vệ sinh đã dạy ta ăn uống phải sạch sẽ, nếu ta muốn được khỏe mạnh, béo tốt. Thuyết ấy sai. Trăm lần sai! Nghìn lần sai! Vì tôi thấy sự thực, ở đời này, bao nhiêu những anh béo, khỏe, đều là những anh thích ăn bẩn cả".

Độc giả băn khoăn và có phần hoang mang bởi mâu thuẫn: ăn uống phải sạch sẽ là đúng rồi. Tại sao những anh béo khỏe lại "ăn bẩn"? Để "lý giải" về cái nghịch lý mâu thuẫn này, là câu chuyện sau…

Kể rằng "con mẹ Nuôi" lên quan trình báo việc mất trộm. Để đến cửa quan, bà ta chạy vạy vay mượn một đồng hai hào. Ở cổng quan, phải hối lộ cho cậu lính lệ hai hào để nhờ anh ta vào bẩm quan. Trước mặt quan, bà ta lúng túng đánh rơi tiền, năm đồng hào rơi xuống đất, tung tóe. Tìm mãi mới được bốn đồng hào... Không đủ tiền trình quan, mụ đành lủi thủi quay ra. Chờ "con mẹ" nhà quê khốn khổ đi khuất, quan huyện đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giày, thò tay nhặt đồng hào, bỏ tọt vào túi. Thì ra quan xử việc ăn trộm, lại chính là kẻ trộm "lành nghề" nhất. Như là một thói quen…

Truyện "Oẳn tà roằn" là màn hài kịch về chuyện cô Nguyệt vào "nhà thương". Màn kịch "hỏa mù" thứ nhất là lời căn vặn về "cậu cháu" của bà đỡ hỏi Nguyệt - người đi đẻ: "- Thưa, cậu cháu tên là Nguyễn Văn Tình, đã mất năm ngoái, sau khi tôi có mang được vài tháng".

Màn kịch tiếp theo là cảnh các công tử đến thăm "người yêu" đẻ, cũng là để "xem mặt" con mình. Hai công tử đầu tiên vừa vào  đã vội lỉnh ra, vừa đi vừa bưng miệng, rúc rích nhìn nhau cười, thì thào: "- Hú vía! Tao tưởng con Nguyệt nó chửa với tao, tao sợ quá!". Đến lượt Phong. Đến lượt Bắc. Ai đến cũng ra rất nhanh, mặt mũi ai cũng khó đăm đăm, rất bí hiểm…

Cuối truyện "màn hỏa mù" mới được "vén lên": "Té ra thằng bé con chàng mà nước da lại đen như cái cột nhà cháy! Vậy nó không phải con Rồng cháu Tiên. Nó là giống "Oẳn tà roằn". Thì ra con Nguyệt là người… Tây đen!

Như vậy, trong văn chương, "tung hỏa mù" cũng là một nghệ thuật. Vấn đề ở chỗ có hợp với logic truyện không, có thuận lý với người đọc không. Xin mời bạn cho ý kiến! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.