Từ vầng trăng Trường Sơn đến “vầng trăng ban ngày”

Từ bao đời nay, vầng trăng là nguồn cảm hứng vô tận của thơ ca. Bởi thế, nếu có nhà thơ nào đó có nhiều câu thơ, nhiều bài thơ liên quan đến trăng, liên hệ với trăng… thì cũng là lẽ thường tình. Nhưng ánh trăng xuất hiện dày đặc trong cả sự nghiệp sáng tác như nhà thơ Lê Thị Mây thì quả là đặc biệt.

Với nữ nhà thơ này, ngoài hàng trăm câu thơ mượn trăng làm phép tu từ trong sáng tác, còn có rất nhiều tập thơ và bài thơ mượn trăng để đặt tên cho tác phẩm của mình: "Những mùa trăng mong chờ"; "Trăng nhà nông"; "Trăng cây rơm"; "Khóc dưới vầng trăng"; "Vầng trăng con gái"; "Trăng Huế"; "Đêm trăng"; "Giếng trăng La Chữ"; "Hiên trăng"; "Phía vầng trăng" v.v…

Đặc biệt hơn nữa, đa số những vầng trăng - ánh trăng của Lê Thị Mây là trăng của chiến tranh và người lính, hoặc liên quan đến chiến tranh và người lính. Lê Thị Mây sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình tuyến lửa, là cựu Thanh niên xung phong thời chống Mỹ cứu nước.

Tuổi thanh xuân của thế hệ các chị gửi lại trên những cung đường Trường Sơn, để khi trở về thì nhiều người - trong đó có chị - như vầng trăng sau rằm cứ ngày nối ngày héo mòn hao khuyết vì sự nhỡ nhàng duyên phận. Có phải vì thế mà trăng ám ảnh, day trở trong thơ chị? Và sau mỗi vầng trăng ấy là những khoảnh khắc, cảnh huống của chiến tranh hoặc hậu chiến tranh; cùng số phận, tình yêu, khát vọng của người chiến sĩ đã đi qua chiến tranh.

Trong hàng trăm thi ảnh về trăng của Lê Thị Mây, có một vầng trăng đã làm nên "thương hiệu" của chị, đó là vầng trăng "Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày". Đây là một "vầng trăng kinh điển" diễn tả tâm trạng của một người con gái khi bất ngờ được đón người yêu từ chiến trường trở về. Theo tôi, trong lịch sử thơ ca Việt Nam, có 3 vầng trăng liên quan đến chiến tranh và người lính đáng được gọi là "để đời". Đó là "Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt" của Đặng Trần Côn; "Đầu súng trăng treo" của Chính Hữu và ánh trăng "tái nhợt… mọc ban ngày" trên đây của Lê Thị Mây.

Nhà thơ Lê Thị Mây trong Ngày thơ Việt Nam năm 2011 tại Văn Miếu - Hà Nội.
Nhà thơ Lê Thị Mây trong Ngày thơ Việt Nam năm 2011 tại Văn Miếu - Hà Nội.

Ý tứ của thi ảnh này còn được Lê Thị Mây triển khai trong bài thơ "Giấc mơ thiếu phụ", như là một sự tiếp nối những tháng ngày chờ đợi, hi sinh thầm lặng vô bờ bến của những người phụ nữ trong chiến tranh:

Nửa vầng trăng
lang thang
trôi giữa rạng ngày xanh tái
ôi giấc mơ
bị cắt hết máu
giấc mơ
của người thiếu phụ chờ chồng…

Nhà thơ Vũ Quần Phương khi gặp "nửa vầng trăng" trên của Lê Thị Mây, đã liên tưởng đến "Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường" trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. "Nửa vầng trăng" của nàng Kiều đã là một sự thiếu khuyết rất lớn.

Sự thiếu khuyết ấy trong đêm thâu thanh vắng, cô đơn, vời vợi… thật đáng thương, đáng chia sẻ biết bao! Nhưng "nửa vầng trăng" của Lê Thị Mây còn dấn thêm một cấp độ nữa: Nó lang thang lạc cả vào ban ngày; như một nỗi sầu muộn khuếch tán không giới hạn. Hai chữ "xanh tái" gợi nên ấn tượng mạnh về một tình thế đợi chờ của người phụ nữ trong chiến tranh….

Trở lại với câu thơ "Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày" trên đây, tuy là vầng trăng của niềm vui, nhưng là niềm vui trong mong chờ dằng dặc, như tên của bài thơ là "Những mùa trăng mong chờ" vậy! Cho nên cái tái nhợt của niềm vui này cũng cùng nguồn gốc căn nguyên với cái xanh tái trong giấc mơ đoàn tụ, giấc mơ hạnh phúc của người thiếu phụ chờ chồng mà thôi.

Quả thật, trong bài thơ "Những mùa trăng mong chờ", còn có rất nhiều những vầng trăng trong nhiều cảnh huống, để bổ sung cho tình thế đợi chờ của cả một thế hệ những người phụ nữ Việt Nam: "Thư anh tin ngày về/ Cho vầng trăng hẹn mọc… Trăng non nghiêng qua rồi/ Bom rung vầng trăng khuyết… Gặp nhau tròn mùa trăng/ Em trẻ như bầu trời… Mai lại tiễn xa nhau/ Vầng trăng cong chẽn lúa… Mong chờ, em mong chờ/ Vầng trăng xinh -gương mặt/ sáng sáng đầy theo anh/ Suốt chặng đường đánh giặc…".

Nhưng trăng thời chiến trong thơ Lê Thị Mây không chỉ có tâm trạng, nỗi niềm của tác giả - một người trong cuộc - mà còn là ánh trăng của cả một thế hệ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến muôn vàn hi sinh gian khổ vì độc lập - tự do của Tổ quốc, chống lại một thế lực xâm lược hùng mạnh bậc nhất. Đó là vầng trăng hiện lên từ lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của cha ông: "Lưỡi kiếm hồ Gươm khi sạch làu bóng giặc/ Hóa vầng trăng như cá lội tung tăng" (Phía vầng trăng)…

Và: "Phía đầu nguồn độc mộc úp trăng non/ Chiếc lá thần trôi trên sông Như Nguyệt/ Có thể nhặt lên lời sấm cứu giang sơn… Hưng đạo vương viết Binh thư yếu lược/ Khi ngẩng nhìn trăng/ Trăng mài mực rung khuyết với non sông" (Đọc binh thư yếu lược). Vầng trăng hào khí ấy trôi từ huyền thoại vào lịch sử và đồng hành cùng người lính trên đường ra trận đánh Mỹ: "Lời ru thủa nôi tre Thánh Gióng/ Quả cà là mặt trăng/ hay vầng dương cổ tích/ Treo hai đầu guốc võng hành quân" (Giấc mơ hành quân).

Và trong cuộc hành quân vì sứ mệnh thiêng liêng của những người lính thời đại Hồ Chí Minh, có: "Gió đèo hun hút lưng ta cõng/ Nặng trĩu hai vai một vầng trăng… Nặng trĩu hai vai hồn Tổ quốc/ Liềm trăng nghiêng đỡ bước lặng im" (Ba lô chiến sĩ)…

 Vầng trăng treo trên đầu súng của các anh Vệ quốc quân chống Pháp năm xưa trong thơ Chính Hữu, nay lại lung linh cùng thế hệ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", như là một biểu tượng phẩm chất văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ: "Vào lính thư nhà tình không cạn/ Con tem quân đội gọi mùa xuân/ Chữ nghiêng đầu bút niềm quê kiểng/ Trăng sững sờ em bóng ngoài sân?" (Lính trẻ). Có hôm gặp: "Gốc đại thụ mảnh bom ghi dấu tích/ Khi hoàng hôn bầy dê đến cọ sừng/ Chính vì thế liềm trăng rơi ngập cỏ/ Lính nhặt lên nghe cỏ hát rưng rưng" (Đảo Cồn Cỏ). Và suốt chặng đường hành quân ra mặt trận ấy, có nhiều đêm: "Bếp Hoàng Cầm hốc đá vùi tro/ Trăng mất ngủ leo theo con thác" (Thời trẻ của anh)…

Trong miên man những vầng trăng Trường Sơn thời đánh Mỹ, có những vầng trăng con gái trinh nguyên, là bạn bè đồng đội cùng thế hệ tác giả: "Vai ba lô ta dép lốp mòn non/ Eo lưng mảnh đưa hình trăng lá lúa/ Có những thì cúi chẽn hẹn tân binh… Mười sáu tuổi, nhìn trăng đâu có khuyết/ Mộ bên đường tuổi mười chín đôi mươi" (Tuổi mười sáu). "Thao thức một vầng trăng khuyết/ Bồn chồn chị gọi thầm em/ Đêm nay dừng đâu mắc võng/ Ngôi sao thăm thẳm Trường Sơn… Ơi con suối xưa chị ở/ làm gương không chút bụi mờ/ Sớm mai em soi chợt gặp/ vầng trăng con gái xanh lơ" (Vầng trăng con gái)…

Trăng chiến sĩ và trăng của những bà mẹ chiến sĩ: "con nào bay hết khúc sông mắt mẹ tiễn đàn con đi kháng chiến/ Bao nhiêu đò đầy còn lại một đò trăng" (Những khúc sông hữu ngạn). Trăng của những cô gái dân quân tự vệ: "Đường làng như hát long lanh/ Em đi trực chiến, trăng lành ươm theo" (Cát làng tôi). Trăng của những mối tình thời chiến: "Trai làng áo lính về thăm/ Cây rơm treo một khuôn Rằm cầu hôn" (Trăng cây rơm)…

Còn nhiều lắm những vầng trăng thời chiến trong thơ Lê Thị Mây. Mới đây, trong tập trường ca "Lửa mùa hong áo", Lê Thị Mây lại vẫn mở đầu bằng những vầng trăng: "Mười chín đôi mươi mẹ tiễn vợi làng/ Trăng lật nón lũy tre bom dội/ Liền chị, liền em san sát thành đồng đội…

Tiểu đội mười hai người trăng rằm làm nón bom dội không rơi/ Này rằm tháng giêng tết Nguyên tiêu bánh phu thê chạm ngõ/ Này rằm tháng chạp mưa phùn, đất là thịt, đất là máu xương gắn bó/ Huyết mạch con đường rạo rực giữa ngàn cây/ Trăng ơi trăng đừng hao khuyết đắng cay/ Tóc rụng nhột bàn chân lội suối…".  Và kết thúc tập trường ca này vẫn là hình ảnh: "Tiểu đội mười hai người, mười hai tháng trăng treo rằm quả thị/ Chị ơi hãy về /Mùa hong áo/ Lửa uy nghi…".   

Cùng với những ánh trăng của muôn vàn những cảnh huống, tình huống thời chiến trên đây, thơ Lê Thị Mây còn rất nhiều những ánh trăng quê hương, trăng phố thị, trăng tình yêu, trăng thế sự nhân tình… cũng hết sức tinh tế, ám tượng, khiến người đọc phải…giật mình. Ai cũng biết, thường thì các nhà thơ tả về trăng, gọi tên trăng, nhưng đâu phải để nói về trăng?

Với Lê Thị Mây cũng vậy, mỗi ánh trăng là một cảnh huống, tâm trạng cụ thể nhưng cách "mượn" trăng của chị là cách cảm nghĩ thiên về khái quát và diễn đạt thiên về ấn tượng với nhiều biểu tượng đa diện. Và nữa, hiện thực cuộc sống lao động, chiến đấu, sinh hoạt mà tác giả từng can dự và trải qua là nền tảng vững chắc cho cảm xúc trữ tình thăng hoa, nhưng bằng lối nói "mượn" trăng rất riêng của tác giả, những hiện thực ấy lại như chìm mờ đi, hoặc chỉ thấp thoáng vừa đủ cho sự cảm nhận của người đọc.

Chẳng hạn: "Đã hơn hai mươi năm bom Mỹ ngừng rơi/ Giờ mẹ khóc cầu nguyện nối dài tuần trăng mật… Nhưng trong máu huyết mẹ thời gian ngưng, phải con không ra đời được nữa… tã lót con đây mẹ bồng ẵm trăng vàng…" (Lời mẹ) v.v...

Trong những câu thơ trên, nỗi đau chất độc da cam/dioxin mấy chục năm sau chiến tranh chỉ cần mấy chữ "bom Mỹ", "tã lót", "bồng ẵm" đã là quá đủ. Tư tưởng nghệ thuật của bài thơ là sự khát khao hạnh phúc được làm mẹ, làm cha của những người lính đã trải qua chiến tranh. Giá trị nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo nhẹ nhàng lặng lẽ toát ra từ những câu thơ hết sức giản dị.

Bởi vậy, vầng trăng trong thơ Lê Thị Mây tuy rõ ràng cụ thể, nhưng lại tạo nên những nét nhòe về thông điệp mà người đọc đôi khi chỉ "cảm thấy" chứ rất khó "nhìn thấy", hoặc "thấy mà như không thấy", như là vầng trăng ban ngày vậy! Đó là nét hiện đại mà nhiều cây bút hăng hái hô hào "cách tân, đổi mới" ngày nay rất khó chạm được!

Mai Nam Thắng

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.