Từ đâu có việc sử dụng câu đối đỏ và cành đào đón Tết?

Phong tục treo “câu đối đỏ” và cắm cành đào đón Tết đã có từ xưa. Ngày nay, việc đón Tết mừng xuân bằng “câu đối đỏ” chừng đã  thưa dần nhưng cành đào thì vẫn không thể thiếu. Có bao giờ bạn tự hỏi: Vì sao lại cành đào? Vì sao lại “câu đối đỏ”? Mà không là một loài hoa khác, một màu sắc khác?

Mở từ điển wikipedia của Google ra để tìm lời giải cho câu hỏi này, ta sẽ gặp câu trả lời sau đây: “Theo quan niệm của người xưa, đào có quyền lực trừ ma quỷ và những điều xấu xa. Màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh. Màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Chuyện kể rằng, ngày xưa, ở phía đông núi Sóc Sơn, có một cây đào mọc đã lâu đời, cành lá sum suê, to lớn khác thường, bóng râm che phủ cả một vùng rộng.

Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền của mình để che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui tới ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của hai vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, do đó mà cũng sợ luôn cả cây đào, hoa đào. Chỉ cần trông thấy cây đào, cành đào hay hoa đào là chúng đã cao chạy xa bay. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai vị thần Trà và Uất Lũy phải lên Thiên đình chầu Ngọc Hoàng.

Câu đối đỏ và cành đào là 2 vật trang trí không thể thiếu trong ngôi nhà người Việt xưa mỗi khi đón Tết cổ truyền.
Câu đối đỏ và cành đào là 2 vật trang trí không thể thiếu trong ngôi nhà người Việt xưa mỗi khi đón Tết cổ truyền.

Trong mấy ngày tết, hai vị thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi chặt cành đào về cắm ở trong nhà, ai không tìm được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình hai vị thần linh dán ở cột trước nhà để xua đuổi ma quỷ.

Từ đó, hằng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, mỗi nhà đều sắm một cành đào đem về cắm ở trong nhà để trừ ma diệt quỷ và đón mừng xuân mới”.

Câu trả lời về vấn đề này của Google đã nói đúng bản chất và mục đích của việc cắm cành đào và treo “câu đối đỏ” trong ngày Tết là để diệt trừ ma quỷ.  Tuy nhiên, lời giải đáp đó vẫn đang ở dạng chung chung, đại khái, chưa thật cụ thể.

Chẳng hạn, hai vị thần Trà và Uất Lũy là hai vị thần nào? Hai vị thần đó từ đâu mà ra? Khái niệm về hai từ “ma quỷ” mà hai vị thần Trà và Uất Lũy phải tìm diệt ấy có nội dung như thế nào? vv…và vv...

Thật ra, việc cắm cành đào và treo “câu đối đỏ” trong ngày Tết có gốc nguồn từ truyền thuyết Chung Quỳ trừ tà xuất hiện từ thời Đường và xa hơn nữa, từ vu thuật “tiến dạ hồ” trừ tà của cư dân Bách Việt trồng lúa nước ở phương Nam.

Theo sách “Mộng khê bút đàm” (khoảng 1031-1095), thời Bắc Tống, vị thần trừ tà tên là Chung Quỳ đã xuất hiện như thế này: “Vua Đường Minh Hoàng do bị bệnh điểm (bệnh sốt rét), trong suốt cả tháng, thầy thuốc đã dùng hết khả năng vẫn không chữa được bệnh khỏi nên trong lòng nhà vua rất buồn bực.

Vào một đêm trằn trọc mãi không ngủ được, vừa chợp mắt thì vua mơ thấy hai con quỷ, một con to, một con bé. Con quỷ bé mình mặc áo đỏ, một chân đi giày, một chân đi đất, tay xách một chiếc giày và một chiếc quạt bằng tre. Con quỷ to mặc áo xanh, quấn khăn, lộ một cánh tay, hai chân giậm đất. Con quỷ to đuổi bắt con quỷ nhỏ, xé xác, moi mắt con quỷ nhỏ ra để ăn thịt.

Nhà vua hỏi con quỷ to: "Ngươi là ai?". Con quỷ to đáp:  "Thần là Chung Quỳ, dũng sĩ vô địch. Thần xuống đây để giúp bệ hạ trừ khử bọn yêu nghiệt trong thiên hạ". Tỉnh dậy, nhà vua bèn gọi Ngô Đạo Tử vào, kể lại giấc mộng và nói: “Khanh hãy theo những đặc điểm vừa được nghe trẫm kể, vẽ lại một bức tranh xem sao”.

Đạo Tử phụng mệnh quay về phòng mình cầm bút vẽ ngay, chẳng mấy chốc vẽ xong, mang vào trình vua. Vua nói: “Không lẽ khanh cũng có giấc mộng giống trẫm? Sao vẽ giống y như trong mộng của trẫm vậy?". Đạo Tử đáp: “Do bệ hạ ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ nghĩ đến việc trừ họa cho dân nên cả trong lúc ngủ cũng đang nghĩ cách, vì thế mới mộng được rõ ràng như vậy! Quả thực là phải có cảnh tượng này được bệ hạ mô tả lại thì thần mới vẽ được!".

Nhà vua phá lên cười, thưởng cho Đạo Tử trăm lạng vàng, đồng thời ra lệnh từ nay về sau ai có công trừ yêu diệt quỷ sẽ được thưởng hậu và nhà vua ra lệnh, từ đây, cứ vào đêm cuối năm hằng năm phải tổ chức lễ trừ tà, xua đi tà khí yêu ma để đón mừng năm mới. Cũng từ đây, trong dân gian đã hình thành nên tục lệ treo bức tranh vẽ hình thần Chung Quỳ trừ tà của Ngô Đạo Tử vào dịp cuối năm, nhất là sau ngày 23 tháng Chạp, lúc ông Công, ông Táo trở lại thiên đình.

Tuy nhiên, các bạn sẽ hỏi, câu chuyện vị thần Chung Quỳ trừ tà vào dịp cuối năm thì liên quan gì đến việc cắm cành đào và treo câu đối đỏ?

Theo sách “Đông sơn vân đạo trung nhân biên” thì lai lịch vị thần Chung Quỳ này như sau: “Chung Quỳ vốn là một người thông minh, tài giỏi, quê ở núi Chung Nam, vào kinh đi thi, đỗ trạng nguyên, nhưng diện mạo rất xấu xí, vua không công nhận, đuổi về.

Chung Quỳ tức giận, đập đầu tự sát. Sau khi chết thì bay lên trời để tâu với Ngọc Đế về nỗi oan ức của mình. Ngọc Đế phong anh ta là Tướng quân nắm giữ quyền cai quản yêu quái ở trần gian, dùng phép “âm phù”, giúp Bao Công trừ gian, diệt quái. Từ khi Chung Quỳ thâu nhận được phép “âm phù” diệt quái của Ngọc Đế, bọn yêu quái thấy hình bóng Chung Quỳ hoặc nghe đến tên Chung Quỳ là chúng khiếp đảm không dám quấy phá trên trần gian nữa.

Chung Quỳ quê ở núi Chung Nam, mà núi Chung Nam thì mọc đầy những cây hoa đào cổ thụ. Chung Quỳ vẫn thường  đi về qua núi Chung Nam, hình bóng Chung Quỳ luôn ẩn hiện trên những cây hoa đào cổ thụ đó. Bọn yêu quái sợ thần Chung Quỳ đến mức hễ trông thấy cây đào, cành đào, gỗ đào,  dù là  đào ở núi Chung Nam hay đào bất kỳ nơi đâu chúng đều run sợ và tìm cách lẩn trốn. Từ đó về sau, dân gian lấy gỗ đào để làm các loại bùa yểm quỷ”.

Thầy đồ dạy trẻ viết câu đối đỏ treo ngày Tết cổ truyền.
Thầy đồ dạy trẻ viết câu đối đỏ treo ngày Tết cổ truyền.

Sách “Tống Sư”, tác giả Ngũ Thế Gia viết: “Hậu chủ nước Thục đời Ngũ Đại ra lệnh cho các học sĩ làm bùa yểm. Nguyễn Nhật làm lá bài hộ chủ, gỗ đó là chất liệu lấy từ cây đào trong núi, quỷ trông thấy phải khiếp, chính thứ này làm thành những lá bùa ngày nay, do bùa làm từ chất liệu gỗ đào nên chỉ gọi là treo bùa yểm, chứ không gọi là “dán bùa”.

Lá bùa gỗ này được sử dụng tận tới sau thời Ngũ Đại mới đổi thành chất liệu giấy, đây cũng chính là khởi điểm cho việc dán câu đối. Câu đối có nguồn gốc từ việc treo tranh Chung Quỳ để đuổi quỷ rồi đến việc chạm khắc bùa yểm lên gỗ đào để treo hai bên cánh cửa, sau thời Ngũ Đại thì đổi từ gỗ sang giấy”.

Như vậy, chúng ta đã biết, ma quỷ sợ gỗ đào là xuất phát từ việc thờ thần Chung Quỳ. Nguồn gốc ra đời của câu đối cũng xuất phát từ việc treo tranh Chung Quỳ trừ tà, làm bùa yểm, khắc chữ lên gỗ đào để treo cửa, sau đó mới chuyển thành việc viết chữ lên giấy.

 Còn việc ma quỷ sợ màu đỏ (câu đối đỏ) là xuất phát từ đâu?

 Đây là một quan niệm về phong tục có nguồn gốc từ Phật giáo.

Sách “Đà la ni tập kinh” viết về cách đặt tượng Tỳ Lỗ Bác Thiên Vương như sau: “Tượng Thiên Vương quần áo xếp bồng về phía trước, tay trái hơi nhấc lên, bàn tay phải nắm lại, tay phải cầm sợi dây đỏ, bởi cầm sợi dây đỏ thì ma quỷ rất sợ”. Quan niệm phong tục này xuất phát từ Phật giáo rồi ảnh hưởng vào Đông Á và Đông Nam Á.

Sách “Hậu Hán thư lễ nghi chí” viết: “Lấy sợi dây đỏ bện lại với đồ cúng, bện chỉ ngũ sắc làm trang sức treo ở cửa ngõ để ngăn tà khí xấu”. “Thời Đông Hán thường lấy sợi giây đỏ treo trước cửa ngõ, dây màu đỏ có tác dụng trói ma quỷ, vì vậy quỷ trông thấy mà khiếp đảm”.

“Bùa yểm, nếu không yểm chu sa thì trước cửa phải treo dây đỏ, ma quỷ sợ màu đỏ, nhất là sợi dây màu đỏ”. Từ đó, phong tục treo câu đối, ngoài nội dung mừng xuân đón tết thì nhất nhất câu đối phải là “câu đối đỏ” vì màu đỏ là màu có thể yểm trừ ma quỷ, theo quan niệm của Phật giáo.

Tuy vậy, phong tục cắm cành đào, treo giải bùa đỏ để trừ tà không phải chỉ đến từ phía cung đình,  hay từ ảnh hưởng các quan niệm Phật giáo mà phong tục ấy còn xuất phát từ quan niệm dân gian, biểu hiện rõ nhất là ở vu thuật “Đả dã hồ” (Đánh đuổi Hồ ly tinh), một vu thuật nhảy múa với mục đích trừ ma diệt quỷ mang tính lễ nghi  của cư dân Bách Việt từ thời xa xưa…

Ngày Tết xuân về, ôn lại tích xưa ghi chép để cùng đọc tham khảo.

Xuân Kỷ Hợi 2019

Thạch Quỳ - Xuân 2019

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.