Nhân kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2023)

Trước Cách mạng Tháng Tám, Đào Mộng Long từng là nhạc sĩ

Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Đào Mộng Long - cây đại thụ, một trong những ngôi sao rực rỡ nhất của bầu trời sân khấu Việt Nam - hẳn là công chúng khán giả đều đã rất quen biết.

Ông có nhiều vai diễn để đời mà không dễ gì người thứ hai có thể đảm đương: Chánh Tôn (Vở “Chị Hoà” của Học Phi), Pitơhắc (Vở “Hàng ngũ hòa bình” - kịch Nga), Tsiarô (Vở “Luba” - kịch Nga), Gôprơđilini (Vở “Khúc thứ ba bi tráng” - kịch Nga), người hát xẩm (Vở “Âm mưu và hậu quả” - tác giả Bửu Tiến và Nguyễn Hoàng Mai) …

Nhưng Đào Mộng Long từng là nhạc sĩ thì không nhiều người biết. Dễ hiểu, bởi ông chỉ viết nhạc thời kỳ Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp. Vả lại, do ông quá xuất sắc, nổi bật trong lĩnh vực sân khấu mà người ta dễ không để ý đến các hoạt động khác, mặc dù thời gian diễn ra Cách mạng tháng Tám, ở Sài Gòn ông đã có những bài hát được đông đảo công chúng biết tới và ưa thích.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Đào Mộng Long từng là nhạc sĩ -1
Cố NSND Đào Mộng Long.

Từ năm 1943, Đào Mộng Long là kép hát chính của gánh Cải lương Nam Hồng, lưu diễn chủ yếu ở Sài Gòn và Nam bộ. Do theo gánh hát nay đây mai đó nên ông không có điều kiện tham gia một tổ chức cách mạng nào. Ông bàn với người chủ gánh hưởng ứng mọi hoạt động khi có bất cứ tổ chức nào yêu cầu.

Dạo đó, tại Sài Gòn, ở thời kỳ tiền khởi nghĩa, phong trào Thanh niên Tiền phong dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương lớn mạnh như Phù Đổng. Những đội ngũ chỉnh tề, hừng hực khí thế, dạt dào sức trẻ, hoạt động sôi nổi khắp nơi từ các ngõ hẻm đến những đường phố lớn. Ai cũng thấy rõ hoạt động của phong trào này đã làm thay đổi đáng kể bề mặt thành phố hoa lệ được coi là “Hòn ngọc của Viễn Đông” khi ấy.

Với sự nhạy cảm vốn có của người nghệ sĩ, Đào Mộng Long cảm nhận rõ như sắp có một sự kiện gì đó vô cùng trọng đại sẽ diễn ra, làm thay đổi toàn bộ cuộc sống, tác động sâu sắc đến vận mệnh mỗi người. Nhìn những đội quân Thanh niên Tiền phong hoạt động, ông vô cùng trân trọng, yêu quý và thấy tâm hồn nao nao, dạt dào cảm xúc. Một niềm tin, niềm tự hào trỗi dậy trong lòng. Trước những gương mặt trẻ trung phơi phới kia, ông hình dung ra sắc diện mới của dân tộc giữa những ngày lịch sử đang chuẩn bị cho buổi chuyển mình vĩ đại.

Và một buổi chiều kia, giữa Sài Gòn mưa tầm tã, trên đường về Đa Kao, ông nhìn thấy một thanh niên tuổi chừng 17-18 tay cầm gậy tầm vông, nghiêm trang đứng gác trụ sở. Mặc cho mưa xối xả vào người, chàng trai trẻ liên hồi vuốt nước trên mặt, vẫn rất yên tâm, hào hứng, vui vẻ làm nhiệm vụ. Hình ảnh ấy gây cho ông ấn tượng thật mạnh. Về tới nhà, ông ngồi ngay vào bàn, sáng tác bài hát “Hồn Việt Nam”. Chỉ sau hơn một giờ đồng hồ, ca khúc được hoàn thành:

Người Việt Nam! Biết hy sinh, quyết chiến đấu.
Muôn năm qua còn ghi dấu.
Non sông ơi! Cờ theo gió bay càng cao…

Lúc ấy, Đào Mộng Long có người bạn thân là Lê Kim Bảng, phụ trách một đội Thanh niên Tiền phong ở Khánh Hội. Bảng vốn yêu quý, hâm mộ Đào Mộng Long nên tác giả đã trao cho người Đội trưởng Thanh niên để về tập cho anh em hát thử xem sao. Long hát cho Bảng nghe, được người bạn rất thích thú, khen bài hát hay, có sức thôi thúc số đông người hành động. Ngay lập tức, Lê Kim Bảng cho triển khai tập bài hát.

Ngày 25/8/1945, cả Sài Gòn đổ xuống đường. Các đoàn người rầm rộ tràn qua các phố lớn, nhanh chóng cướp được chính quyền. Cũng với những tiếng hô vang các khẩu hiệu là tiếng hát của quần chúng biểu tình. Đào Mộng Long thật không ngờ: Bên cạnh những bài như “Cùng nhau đi hồng binh” (Đinh Nhu), “Du kích ca” (Đỗ Nhuận), “Tiếng gọi Thanh niên” (Lưu Hữu Phước), “Cờ Việt Minh” (Vương Gia Khương), “Diệt phát xít” (Nguyễn Đình Thi) … ông nghe người ta hát bài “Hồn Việt Nam” của mình. Ngay sau đó, bài hát lan truyền đi khắp nơi, được nhiều đơn vị thanh niên khác hát.

“Hồn Việt Nam” được viết ở giọng Rê, điệu trưởng với tiết tấu hành khúc, có kết cấu ngắn gọn mang chất liệu âm nhạc dân tộc. Ca khúc giàu yếu tố thôi thúc, cổ vũ nên dễ dàng được quần chúng đón nhận.

Sau ngày nổ ra kháng chiến ở Nam bộ (23/9/1945), Đào Mộng Long hoạt động văn nghệ trong Sư đoàn 3 ở Cao Lãnh (Đồng Tháp). Tết năm đó, ông được lệnh cùng với NSND Quốc Hương là ca sĩ của sư đoàn, đến hát cho anh em thương binh nghe.

Trước Cách mạng Tháng Tám, Đào Mộng Long từng là nhạc sĩ -0
Nghệ sĩ Đào Mộng Long trong vai Siarơ (vở "Luba" - kịch Liên Xô cũ).

Lúc ấy, nghệ sĩ Quốc Hương chưa sáng tác (về sau, người ca sĩ này mới viết ca khúc). Đào Mộng Long bèn quyết định viết một bài hát về thương binh để kịp thời phục vụ theo lệnh của Sư đoàn trưởng. Ngày ấy, hai tiếng “thương binh” là khái niệm rất mới mẻ, đã gây cho ông xúc cảm đặc biệt, nhất là khi được tiếp xúc, mục kích những chiến sĩ đang băng bó, chống nạng hoặc hỏng mắt sau những cuộc chiến đấu với quân thù. Một tứ nhạc bật ra và cũng rất nhanh, chỉ sau một giờ, ông viết được bài “Hồn chiến sĩ”. Bài hát được hình thành ở giọng Rê thứ với tiết tấu 3/4, tốc độ chậm rãi, gợi tính chất tưởng niệm khiến người nghe rất cảm động:

Hồn chiến sĩ ơi!
Nghi ngút khói hương trầm bay theo gió.
Gió đưa về đây mà nghe lời nước non thầm nhớ.
Người anh hùng sống cho ngày mai…

Đào Mộng Long chẳng những là kép cải lương nổi tiếng mà còn hát tân nhạc rất hay. Trong nhiều buổi biểu diễn cho gánh Cải lương Nam Hồng, ngoài vai trò soạn kịch bản, dàn tập (ngày ấy chưa gọi là đạo diễn), đóng nhiều vai chính, ông còn hát nhiều bài hát mới trước mỗi vở diễn. Ông định sau khi sáng tác sẽ cùng Quốc Hương song ca, nhưng vừa viết xong bài “Hồn chiến sĩ” thì ông lên cơn sốt cao nên Quốc Hương phải hát đơn ca.

Tết năm đó (1946), ông cứ nằm bẹp trên giường, sốt li bì, không biết người đồng nghiệp biểu diễn ra sao. Rồi chiều mùng 1 Tết, Quốc Hương về, đến bên giường bệnh khoe với Đào Mộng Long là bài hát được đông đảo người nghe tán thưởng. Chỉ một thời gian ngắn sau, hầu như tất cả chiến sĩ Sư đoàn 3 đều thuộc và hát. Rồi một số đơn vị khác cũng truyền nhau tập bài này. Bài hát được coi là bài mặc niệm của Sư đoàn thời đó.

Đó là 2 bài hát đầu tay của Đào Mộng Long, có sức lan toả rộng rãi ở Nam bộ trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài “Hồn Việt Nam” đã từng là 1 trong 2 bài được chính quyền Ngô Đình Diệm cân nhắc, lựa chọn làm “Quốc ca” của họ. Nhưng sau đó, họ đã lấy bài: “Tiếng gọi tb Bộ thời gian này đều không thể không biết “Hồn Việt Nam” và “Hồn chiến sĩ” của Đào Mộng Long. Sau đó, trong suốt 8 năm chống Pháp, ông còn viết được mấy chục bài hát nữa như: “Lê Lợi chiến thắng ca”, “Có một đêm trăng”, “Mùa thu mới”, “Hỡi anh Vệ quốc quân”, “Tranh đấu”, “Công nông binh”, “Đóng thuế”, “Nông dân vui đấu tranh”… Những bài hát của ông đều bám sát các nhiệm vụ của quân dân ta qua từng giai đoạn kháng chiến và toát lên âm hưởng lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng.

Sau ngày hòa bình lập lại (1954), từ khi chuyển hẳn sang diễn kịch nói và đạo diễn, dàn dựng ở Đoàn Kịch nói Trung ương, rồi sau này là Nhà hát Kịch Việt Nam, Đào Mộng Long không sáng tác nhạc nữa, mà chỉ viết bài hát cho các nhân vật trong vở kịch nói, cải lương do ông sáng tác hoặc đạo diễn. Thế là đến bây giờ, mọi người chỉ biết Đào Mộng Long là ngôi sao sân khấu lớn mà không hoặc ít biết ông đã từng là nhạc sĩ những năm tháng xa xưa…

Đào Mộng Long sinh năm 1915, quê ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là người bôn ba khắp đất nước. Lúc trẻ thì tham gia nhiều gánh hát cải lương biểu diễn suốt từ Bắc đến Nam. Về sau, ông chuyển hẳn sang hoạt động ở lĩnh vực kịch nói với các vai trò: Diễn viên, soạn vở và đạo diễn. Lại cũng được nhiều đơn vị sân khấu cả nước mời đạo diễn các vở, nhất là những dịp chuẩn bị cho các kỳ hội diễn sân khấu toàn quốc. Với nhiều cống hiến lớn cho nền sân khấu nước nhà, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND ngay từ đợt đầu tiên (năm 1984). Ông cũng là thành viên Hội Đồng xét tặng các danh hiệu nghệ sĩ cấp quốc gia.

Ngày 9/6/2006, vào lúc 12 giờ 5 phút, Đào Mộng Long trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 92 tuổi, để lại một gia sản quý báu cho hậu thế với những vai diễn bất hủ, cùng nhiều vở diễn giá trị do ông sáng tác hoặc dàn dựng và cả 2 bài hát đặc sắc, nổi tiếng một thời. 

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.