Triết lý về cái bóng!

Cổ tích Việt Nam có truyện “Hổ và thỏ” mang tính ngụ ngôn giáo huấn bài học con người ta phải biết tỉnh táo để nhận ra chân dung chính mình.

Một con hổ to xác, hung ác bị con thỏ lừa đến cái giếng. Hổ ta nhìn xuống thấy một con hổ dưới giếng. Hổ ta gầm lên, con hổ dưới giếng cũng gầm lên. Tức mình, hổ ta nhảy xuống quyết xé xác kẻ dám xâm phạm lãnh địa… Câu chuyện toát ra bài học khi đã vô mưu lại mất bình tĩnh thì sẽ “chết mất xác”.

Thần thoại Hy Lạp kể, chàng Narcissus là con trai của thần sông Cephissus và nữ thần Liriope. Lớn lên Narcissus sở hữu một vẻ đẹp hiếm thấy, vượt xa tất cả các vị thần thánh đẹp nhất của thế giới Ôlanhpơ. Một hình thể khỏe mạnh của lực sĩ, cặp mắt sáng ngời, những lọn tóc xoăn vàng mơ màng óng ả rủ xuống vầng trán cao kiêu hãnh, đôi môi hồng tươi như hoa nở, hàm răng lấp lóa như ngọc... Đẹp đến nỗi, nữ thần Liriope lo sợ, sai người giấu tất cả gương soi trong nhà…

Lớn lên, chàng đi ra ngoài thiên nhiên chơi bời, thăm thú. Ngày nọ, lang thang trong rừng, đến bên một hồ nước trong vắt, chàng cúi xuống vốc nước định uống, bỗng sững lại. Một hình bóng thần thánh lấp lóa lung linh dưới mặt nước. Định thần, chàng nhận ra đó chính là mình. Sửng sốt. Bàng hoàng. Ngạc nhiên. Thần Zớt ơi, còn ai có vẻ đẹp trên cả tuyệt vời thế này không? Một niềm tự hào ích kỷ, một niềm thỏa mãn ngấm ngầm trong chàng cứ lớn dần lên...

image002 - copy.jpg -0
Lý Bạch “Nâng chén mời trăng sáng”.

Thần thánh luôn tài năng và đẹp đẽ. Nhưng phẩm chất liên tài thì chưa hẳn. Như chàng Narcissus kia, chỉ muốn một mình đẹp, không ai đẹp hơn. Thế nên bao thánh nữ trong trắng và mỹ nữ nồng nàn đem lòng yêu, nhưng chàng đều cho qua, vì thấy họ, nói như AQ của Lỗ Tấn là, “không xứng”. Kể cả người đẹp nhất Ôlanhpơ là Echo - nữ thần Tiếng Vọng. Không ai xứng, thành ra dần dần Narcissus say mê chính bản thân.

Ngày lại ngày, chàng tìm đến hồ nước, cúi xuống chiêm ngưỡng cái bóng mình. Đắm đuối, mê mẩn, quên mọi thứ, Narcissus cứ quỳ bên hồ... Chàng ghét những cơn gió làm mặt nước xao động, cái bóng sẽ bị tan ra. Một làn gió thoảng đủ làm chàng sợ hãi. Thảng thốt chàng kêu: “Narcissus… Narcissus…”. Ngay sau đó, âm vọng từ vách núi thao thiết dội về: “Narcissus… Narcissus…”. Đó chính là tiếng của nữ thần Echo bồi hồi khắc khoải đáp lại. Đừng mơ nhé. Chàng không yêu Echo. Thà chết. Dần dần, chàng kiệt sức…

Câu chuyện ấy ở trên đỉnh Ôlanhpơ - thế giới của thần thánh, rơi xuống trần gian, kết thành châm ngôn luân lý “Tinh thần Narcissus” để con người nhắc nhở nhau: đã đẹp rồi, giỏi rồi, có thành tựu rồi, được thừa nhận rồi, nhưng phải cố gắng vươn lên phấn đấu để có thành tích mới. Tự thỏa mãn là chết. Như chàng Narcissus kia, hoặc như AQ. Nghe nói, Lỗ Tấn khôn ngoan lấy một ít “tinh thần Narcissus” “đắp” vào AQ…

Hình như nhà văn Đan Mạch Andersen còn khôn ngoan hơn Lỗ Tấn, bởi trước đó ông đã viết một ngụ ngôn có tên “Cái bóng”. Nhân vật chính là một nhà bác học đã có nhiều công trình lớn, một hôm ông cho phép cái bóng rời khỏi mình đi chơi bời đây đó. Với bản tính láu cá, ma lanh, cái bóng trở nên sang trọng và giàu có. Nó trở về và bắt nhà bác học phải trở thành cái bóng của chính nó. Cuối cùng nó giết chết ông chủ từng nuôi dưỡng nó.

Một bài học bật ra: Dù là người giỏi giang đến mấy (như nhà bác học nọ) nhưng nếu không quản lý, giáo dục cái tôi ích kỷ, tự mãn xấu xí, nó sẽ nổi loạn bắt mình làm nô lệ, thậm chí giết chết chính bản thân mình. Hình như Andersen viết câu chuyện ấy cho cả một số nhiều người tài (như nhà bác học nọ) nhưng sớm thỏa mãn với thành tích, đã có 1, 2 tác phẩm, công trình, rồi “tắt ngấm”, hoặc có cũng chỉ là “ăn mày quá khứ”, na ná cái cũ…

Viết về cái bóng của mình, ở phương Đông, Lý Bạch là người sớm đưa vào thơ rất thành công với bài “Nguyệt hạ độc chước” (Uống rượu dưới trăng) tả cảnh nhà thơ một mình uống rượu dưới trăng. Một mình mà có ba nhân vật: chủ thể trữ tình; bóng; trăng: “Có rượu không có bạn/ Một mình chuốc dưới hoa/ Cất chén mời trăng sáng/ Mình với bóng là ba/ Trăng đã không biết uống/ Bóng chỉ quấn theo ta/ Tạm cùng trăng với bóng/ Chơi xuân cho kịp mà!/ Ta hát, trăng bồi hồi/ Ta múa, bóng rối loạn/ Lúc tỉnh cùng nhau vui/ Say rồi đều phân tán/ Gắn bó cuộc vong tình/ Hẹn nhau tít Vân Hán”.

Trôi theo dòng thời gian hơn ngàn năm, thi phẩm cập bến bờ hiện đại, mà lại hiện đại hơn cả hiện đại. Ở sự tưởng tượng, liên tưởng mới mẻ, phóng túng và phóng khoảng; ở chất hài hước ít có ở hiện đại mà vẫn cổ điển, sâu sắc, cô đọng; đặt ra vấn đề cô đơn “bản thể luận”; ở khuynh hướng sinh thái, giao hòa thiên nhiên vũ trụ mà vẫn một cá tính ngạo nghễ…

Dưới góc nhìn ngụ ngôn, bài thơ có hai câu rất sâu sắc: “Lúc tỉnh cùng nhau vui/ Say rồi đều phân tán”. Đó là một triết lý: khi mình tỉnh táo, chỉ có bóng là trung thành với mình nhất. Còn khi đã say thì “đều phân tán” cả. Tức mình không còn là mình nữa.

image004 - copy.jpg -1
Cái bóng của Vũ Nương – “Người con gái Nam Xương”.

Viết về chủ đề “cái ghen đàn ông”, trong văn học trung đại Việt Nam có một “Người con gái Nam Xương” nổi tiếng của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVII). Cái anh chàng Trương Sinh nông nổi tin vào lời đứa con ba tuổi (Đản) là chỉ có đêm đến thì cha mới về, mẹ đi thì cha đi, mẹ ngồi thì cha ngồi nên không bao giờ bế Đản. Vì trước đó Trương Sinh phải đi lính trong khi đó vợ ở nhà có con.

Cái ghen bóng ghen gió cứ ấm ức rồi ngày một lớn dần để rồi Trương Sinh mắng nhiếc người vợ ngoan (Vũ Nương) những điều tệ hại nhất về phẩm tiết người phụ nữ. Nàng phải tự tử... Trong cô đơn, trống vắng, vào một tối tê tái buồn trong ngôi nhà có người vừa chết, Trương Sinh đi đi lại lại, bồn chồn, thằng Đản chợt hét toáng lên: “Ba tôi đến kìa!”. Nó chỉ vào cái bóng Trương Sinh trên tường...

Sững sờ, thảng thốt, bàng hoàng, chàng gục xuống như cái mầm ghen của thằng đàn ông nhỏ nhen teo tóp thảm hại trước ánh sáng sự thật: những ngày chàng xa nhà, vợ lấy bóng của mình nói với con về ba nó. Dân gian vẫn nói vợ chồng “như hình với bóng”...Thế mà!!!

Cái bóng luôn âm thầm và luôn hiện hình trên cái nền nào đó. Trong“Cung oán ngâm khúc”, Nguyễn Gia Thiều “vẽ” bóng người cung nữ trên bức tường: “Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh” và bức vách: “Vách sương nghi ngút đèn xanh mờ mờ” rồi đặt trong không gian cung cấm: “Trong cung quế âm thầm chiếc bóng/ Đêm năm canh trông ngóng lần lần”. Nàng vật vờ trong cung, bóng nàng vật vờ trên vách: “Đêm năm canh lần nương vách quế”. Chế độ nam quyền phong kiến ích kỷ đã giết chết đời nàng: “Cái buồn này ai dễ giết nhau/ Giết nhau chẳng cái lưu cầu/ Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!".

Nếu Nguyễn Gia Thiều “đối thoại với bóng” (chữ dùng của Đỗ Lai Thúy), thì Tản Đà cô đơn đến mức “Nói chuyện với bóng” (tên bài thơ - 1932). Trong bối cảnh: “Phòng văn nửa khép cánh thu/ Đèn văn một ngọn trông lù dù xanh/ Đứng lên, ngồi xuống một mình/ Khối tình ai nặn, lửa tình ai khêu”. Bất ngờ có “người” xuất hiện: “Mập mờ khi thấp, khi cao/ Trông ra chẳng biết ông nào lại chơi”.

Chẳng có “ông” nào, đó là cái bóng của mình: “Ta ngồi khi Bóng cũng ngồi/ Ta đi, ta đứng, Bóng thời cũng theo”. “Họ” nói chuyện với nhau hay một cuộc độc thoại nội tâm của một con người: “Ngọn đèn khêu tỏ, đôi ta cùng ngồi/ Cùng nhau rãi một đôi nhời/ Ta ngồi ta nói, Bóng ngồi Bóng nghe”. Bài thơ cho thấy một nỗi cô đơn, lạc lõng đến cực điểm. Không còn ai để tâm sự, giãi bày. Chỉ “Một mình mình nói, một mình mình nghe”.

Tố Hữu làm thơ về anh bộ đội luôn trong xu hướng nâng hình tượng ngang tầm vũ trụ: “Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều/ Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo/ Núi không đè nổi vai vươn tới/ Lá ngụy trang reo với gió đèo” ("Lên Tây Bắc" - 1948). Trong không gian buổi chiều Tây Bắc có hai hình ảnh in hình bóng vào nhau: người lính và núi non, đèo dốc. Đang hành quân vượt núi, nên anh lính trong tư thế “đỉnh cao” (đỉnh dốc), vươn cao (vươn tới) để hòa nhập vào vũ trụ (reo với gió đèo).

Ở dưới nhìn lên có cảm giác anh vừa nhập vào núi non, thân thương; vừa vượt lên núi non, kỳ vĩ. Hình tượng “rất đẹp” cả về nghĩa thực, cả về nghĩa bóng: người lính vượt qua mọi khó khăn để vươn tới lý tưởng chiến thắng. Vần “eo” vừa gợi ra cái hiểm trở (cheo leo) vừa như mở ra một không gian mới, tầm nhìn mới (reo, đèo) khi đã vượt qua cái “cheo leo” chòm núi. Cảm hứng về đối tượng miêu tả mang tầm vũ trụ đã tạo ra những câu thơ vang vọng âm hưởng sử thi đậm tính huyền thoại.

Văn chương hôm nay hình như lý tính hơn nên ít viết về cái bóng!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.