"Tráng sĩ của núi rừng" đã bay về miền ánh sáng

Tôi may mắn có nhiều dịp được trò chuyện cùng ông, trong những cuộc phỏng vấn, hội thảo về văn hóa dân gian. Gần đây nhất là cuộc trò chuyện cho số báo Tết năm 2022. Lần đó, sức khỏe của ông đã yếu dần nhưng ông vẫn còn nhiều trăn trở cho sự mai một của văn hóa. Giờ thì những nỗi âu lo không còn vướng bận đến ông nữa. Ngày 24/4 vừa qua, người “tráng sĩ của núi rừng” ấy đã bay về miền mây trắng, để lại một khoảng trống vô cùng trong đời sống văn hóa, khoa học nước nhà.

1. Trong cuộc gặp lần đó, GS.TS khoa học Tô Ngọc Thanh vẫn hào hứng kể cho tôi nghe những chuyến về rừng, đến các vùng dân tộc của ông, về hành trình đến hơn 60 quốc gia, cả những vùng xa nhất như Tây Tạng, hay dãy núi Himalaya… Những chuyến điền dã nhiều năm ròng với người Thái, người Tày… Bước chân ông đã ngừng đi gần 20 năm, trí nhớ cũng vơi dần, nhưng những gì thuộc về văn hóa, tộc người, ông vẫn nằm lòng. Con người nhỏ bé, gầy guộc ấy mang trong mình một sức sống lạ kỳ, một khí phách hiên ngang, một tình yêu và sự tận hiến cho khoa học, cho văn hóa dân gian. Ông nói, ông mê âm nhạc dân gian từ bé, nếu ngày nhỏ không được nghe hát ru thì ông không ngủ.

Giáo sư Tô Ngọc Thanh được bố là họa sĩ Tô Ngọc Vân dạy vẽ từ năm lên 6 tuổi, nhưng ông yêu âm nhạc hơn. Ngày nhỏ, ông thường trốn nhà đi nghe hát xẩm đầu phố Khâm Thiên, hay ngó sang nhà nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, bạn của bố để nghe lỏm ả đào. Biết con trai mê âm nhạc nên họa sĩ Tô Ngọc Vân tôn trọng con. Giáo sư Tô Ngọc Thanh kể lại, cha ông bảo: “Con không theo hội họa là đúng. Nếu không có năng khiếu thì đừng đứng chật đất của người khác”.

GS.TS Tô Ngọc Thanh.
GS.TS Tô Ngọc Thanh.

Ông là sinh viên khóa 1 của Trường Âm nhạc Việt Nam (1956-1959), tốt nghiệp loại giỏi. Khóa đầu tiên của ông là lứa nhạc sĩ phục vụ chống Mỹ cứu nước sau này như: Hoàng Việt, Hoàng Hiệp, Ngô Huỳnh, Hồng Thao, Vĩnh Cát, Hồng Đăng. Năm 1959, ông được phân công về Ban Nghiên cứu âm nhạc thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Từ thời điểm này, ông bắt đầu hành trình sưu tầm nghiên cứu âm nhạc dân gian các dân tộc, sống hòa nhập cùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao với tư cách là “người trong cuộc - Insider” - ăn ngủ cùng người dân tộc, học nói ngôn ngữ của họ, thẩm thấu văn hóa của họ. Ông ở với người Thái 12 năm, thông thạo tiếng Thái, có lẽ nhiều người Thái không hiểu văn hóa của họ bằng ông. Hay nghiên cứu về người Mông, Dao, Tày cũng vậy.

Đối với ông, văn hóa dân gian là cả một kho tàng mang vẻ đẹp lấp lánh của những huyền sử, những biểu tượng. Vẻ đẹp ấy, giờ đã mai một đi nhiều. Không chỉ “thuộc lòng” Tây Bắc, ông còn dành thời gian nghiên cứu âm nhạc, văn hóa Tây Nguyên và có những đóng góp đáng kể. Chọn âm nhạc dân tộc để theo đuổi, ông đã bảo vệ xuất sắc luận án Phó tiến sĩ tại Bungary, sau đó thành Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học.

Ông là người có nhiều công lao, cùng với các cộng sự của mình hoàn thiện các hồ sơ về nhã nhạc cung đình Huế, ca trù, quan họ để trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn của thế giới. Với tính cách thẳng thắn, quyết liệt, kiến thức uyên thâm và tình yêu vô bờ bến dành cho văn hóa dân gian, ông đã dũng cảm đấu tranh bảo vệ, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, trên nhiều diễn đàn trong nước và quốc tế.

Mấy chục năm lặn lội khắp núi rừng, buôn bản vùng Tây Bắc, Việt Bắc và Tây Nguyên, GS.TS Tô Ngọc Thanh cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc như công trình“Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc”(1969), tác phẩm“Âm nhạc dân gian Mường”(1971), tư liệu“Âm nhạc Cung đình Việt Nam”(2000), ghi chép về văn hóa và âm nhạc - công trình đồ sộ, dày hơn 900 trang sách... Hơn ai hết, ông hiểu được vai trò quan trọng của văn hóa, văn hóa dân gian đối với sự tồn vong của một quốc gia.

2. Ông là một nhà nghiên cứu lớn và đồng thời, ông còn là một người thầy của nhiều thế hệ học trò - một người thầy vĩ đại. Bởi ông không chỉ truyền dạy tri thức, kỹ năng làm nghề, ông còn có thể trao truyền cả nghiệp lớn cho các thế hệ tiếp nối. “Tất cả những nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, văn hóa dân gian Việt Nam thế hệ sau ông ít nhiều đều lĩnh hội, thụ hưởng kiến thức từ giáo sư Tô Ngọc Thanh - như một cây đại thụ lớn của nền khoa học xã hội Việt Nam hiện đại”. Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền - một trong những học trò xuất sắc của ông chia sẻ.

GS.TS Tô Ngọc Thanh (ngoài cùng bên phải) với NSND Y Brơm và các nghệ nhân dân tộc Ba Na, tỉnh Kon Tum.
GS.TS Tô Ngọc Thanh (ngoài cùng bên phải) với NSND Y Brơm và các nghệ nhân dân tộc Ba Na, tỉnh Kon Tum.

Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền có nhiều kỷ niệm gắn bó với giáo sư Tô Ngọc Thanh. Ông chia sẻ: “Không chỉ như một người thầy, một học giả lớn với khối lượng công trình đồ sộ có tính tiên phong, lớp hậu sinh chúng tôi còn tìm thấy ở ông một đồng nghiệp lớn - một bạn nghề vong niên hiếm có, sẵn lòng chấp nhận mọi sự tranh cãi sòng phẳng, không phân biệt thế hệ. Đặc biệt với các học trò thân cận, sẽ dễ dàng thấy ông như 1 người cha/ chú ruột rà thân thương với vô số những kỷ niệm không thể nào quên”.

Ông kể lại nhiều kỷ niệm với người thầy lớn của mình. “Thời ông sống một mình ở khu tập thể Nghĩa Tân, có những lúc khủng hoảng, gọi điện than thở, ông nói ngay: “Mày vào đây với chú!”. Thế là lọ mọ cả ngày ở bên thầy như chú cún con tìm chỗ che chở. Tự tay ông pha cafe, rồi dắt tôi đi chợ, nấu nướng các món ngon, buôn chuyện đến tận tối khuya để giải tỏa, sốc lại tinh thần cho học trò. Ông còn lục tìm nhiều kỷ vật cho tôi xem, như những bản dân ca Thái do ông ký âm, chép tay, nét bút xanh tím thuở những năm còn sống trên Sơn La, đẹp đến lạ lùng; hay những thủ bút trên những mảnh giấy ố vàng, có cả biên bản kiểm điểm Tô Ngọc Thanh thời trai trẻ vì cái tội “tối đến không chịu sinh hoạt hòa đồng với anh em bạn bè mà chỉ lo… tự học ngoại ngữ, làm lợi cho riêng mình…”.

Giờ ông đã “bay về miền ánh sáng”. Vị “tráng sĩ” của núi rừng năm xưa đã để lại cả một di cảo đồ sộ những công trình lớn rực rỡ ánh hào quang. “Lịch sử nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, văn hóa dân gian Việt Nam sẽ mãi in đậm dấu ấn 3 chữ Tô Ngọc Thanh như một tấm gương lớn về sống- học tập- lao động cống hiến không biết mệt mỏi đến tận phút chót”, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền xúc động. 

GS.TSKH Tô Ngọc Thanh sinh năm 1934 tại Hà Nội, là con trai của danh họa Tô Ngọc Vân. Từ nhỏ, dù được học mỹ thuật nhưng ông đã sớm bộc lộ đam mê về âm nhạc và lựa chọn âm nhạc là hướng đi của đời mình. Ông thi tuyển và theo học khóa I. Năm 1988, ông tiếp tục bảo vệ thành công Luận án và được phong học vị TSKH về chuyên ngành Âm nhạc tại Nhạc viện Quốc gia Bulgaria. Ông được phong PGS năm 1984 và được phong GS năm 1991.

Cả cuộc đời GS Tô Ngọc Thanh gắn bó với công việc nghiên cứu về văn hóa dân gian. Ông đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu như: “Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc” (1969), “Âm nhạc dân gian Mường” (1971); “Âm nhạc dân gian nhóm tộc người Nam Á ở Việt Nam” (1979); “Tìm hiểu âm nhạc cổ truyền”, viết chung với nhạc sĩ Hồng Thao (1982); “Fonclo Bahna”, do ông chủ biên (1988), “Nhạc cụ các dân tộc thiểu số Việt Nam” (1995), tư liệu “Âm nhạc cung đình Việt Nam” (2000); “Ghi chép về văn hóa và âm nhạc” - công trình đồ sộ, dày hơn 900 trang…

GS,TSKH Tô Ngọc Thanh còn nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý, nâng cao, đưa vào đời sống văn hóa cộng đồng 12 tập dân ca phổ biến tiêu biểu của đồng bào các dân tộc thiểu số và 30 tập dân ca chuyên đề từng dân tộc.

Trong sự nghiệp của mình, GS.TSKH Tô Ngọc Thanh từng trải qua nhiều vai trò như Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật; Tổng Thư ký, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam; Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống ICTM của UNESCO.

Năm 2001, GS Tô Ngọc Thanh được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. GS.TSKH Tô Ngọc Thanh còn được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý như Huân chương Độc lập hạng Nhì (2019), Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Nhất (2001)…

Việt Hà

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.