Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

Tròn 50 năm, kể từ mùa Xuân Mậu Thân 1968, thi sỹ - liệt sỹ Lê Anh Xuân đi xa. Nhưng cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của anh mãi mãi được ghi vào những trang vàng của văn chương Cách mạng Việt Nam thời hiện đại. 

Bài thơ "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân với thế hệ đã được tôi luyện qua lửa đỏ và nước lạnh, như "thép đã tôi thế đấy", là một gia sản tinh thần. Nói đúng hơn, nó thuộc về văn sản Việt Nam thời kỳ bão tố cách mạng và chiến tranh. Năm mươi năm đã qua, hãy cùng nhau đọc lại toàn văn bài thơ hừng hực khí thế tiến công, sáng ngời tinh thần tận hiến của một thế hệ sẵn sàng "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh":

Dáng đứng Việt Nam
Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt
Nhưng Anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hang
Có thằng sụp dưới chân Anh tránh đạn
Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng
Như đôi dép dưới chân Anh dẫm lên bao xác Mỹ
 Mà vẫn một màu bình dị sáng trong
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Anh là chiến sỹ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước
Ơi Anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

                                                3-1968

Những người không biết chiến tranh sẽ có thể chưa cảm nhận hết cái đẹp và tầm vóc của một trong những bài thơ hay nhất của nền thơ chiến đấu Việt Nam trong mười ngàn ngày (1945-1975) kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam đánh bại hai đế quốc lớn của thế kỷ hai mươi là Pháp và Mỹ.

Nhà thơ - liệt sĩ Lê Anh Xuân.
Nhà thơ - liệt sĩ Lê Anh Xuân.
Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940, tại Châu Thành, Bến Tre. Thuở nhỏ, sống với cha mẹ ở vùng kháng chiến miền Tây Nam Bộ. Năm 1952, làm việc tại nhà in Trịnh Đình Trọng, thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ. Năm 1954, theo gia đình tập kết ra miền Bắc, theo học tại Trường học sinh miền Nam (Hải Phòng), Trường Nguyễn Trãi (Hà Nội). Từ 1958 đến 1962 Lê Anh Xuân học Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Tốt nghiệp đại học, anh được giữ lại Trường làm trợ giảng tại Bộ môn Lịch sử thế giới (chuyên về lịch sử văn hóa Hy Lạp - La Mã), Khoa Lịch sử. Không nhận tiêu chuẩn đi học nước ngoài (Liên Xô) do tổ chức bố trí, cuối năm 1964,Lê Anh Xuân tình nguyện trở về miền Nam công tác ở Tiểu ban Giáo dục, thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương cục.

Từ tháng 7-1965 anh chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng. Ngày 24-5-1968, Lê Anh Xuân hy sinh tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Cuộc đời Lê Anh Xuân, có thể nói là một tấm gương tận hiến cho Tổ quốc của một thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết, hoài bão, lý tưởng cao cả.

Sự nghiệp văn chương của Lê Anh Xuân chưa hẳn đã đồ sộ nếu xét về số lượng. Một số tác phẩm chính đã xuất bản của Lê Anh Xuân: "Tiếng gà gáy" (Tập thơ, 1965), "Giữ đất" (Văn xuôi, 1966), "Hoa dừa" (Tập thơ, 1969), "Nguyễn Văn Trỗi" (Trường ca, 1969), "Thơ Lê Anh Xuân" (Tuyển thơ, 1981), "Nhật ký Lê Anh Xuân" (2011).

Lê Anh Xuân đã được nhận Giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1961) cho bài thơ "Nhớ cơn mưa quê hương" với bút danh Ca Lê Hiến. Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2011. Lê Anh Xuân là 1 trong 100 nhân vật của Đại học Quốc gia Hà Nội (sách "Chân dung một thế kỷ Đại học Quốc gia Hà Nội", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006).

Bài thơ được viết vào tháng 3-1968, đúng thời điểm chiến dịch Mậu Thân đang ở giai đoạn ác liệt. Không thể kể hết những tổn thất lớn lao của quân và dân ta trong chiến đấu. Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng tuyệt vời của quân và dân miền Nam anh hùng. Những cái chết đã hóa thành bất tử. Những cái chết gieo mầm sự sống.

Có lẽ, Lê Anh Xuân đã ấn tượng sâu sắc về sự hy sinh của những chiến sỹ Giải phóng quân miền Nam anh hùng, và đó chính là thi liệu, thi hứng tạo nên thi phẩm "Dáng đứng Việt Nam". Trong bài thơ "Bài ca xuân 68", Tố Hữu đã viết những vần thơ cao vút, hào sảng về người chiến sỹ Giải phóng quân: "Hoan hô Anh Giải phóng quân/ Kính chào Anh con người đẹp nhất/ Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời/ Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi/Một dây ná, một cây chông, cũng tiến công giặc Mỹ/Không tự ngắm mình, Anh chẳng hay đâu, hỡi chàng dũng sỹ/ Cả năm châu, Chân lý đang nhìn theo/ Bóng Anh đi... và vành mũ tai bèo/ Của Anh đó/ Ôi cái mũ vải mềm dễ thương như một bàn tay nhỏ/ Chẳng làm đau một chiếc lá trên cành/ Sáng trên đầu như một mảnh trời xanh".

"Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân có cách tiếp cận, thể hiện độc đáo hình tượng người chiến sỹ Giải phóng quân. Bài thơ lúc mới viết có nhan đề giản dị - "Anh Giải phóng quân". Trước lúc lên đường vào cuộc chiến đấu mới, Lê Anh Xuân gửi lại bài thơ cho Ban Biên tập tạp chí Văn nghệ Giải phóng.

Theo hồi ức của nhà văn Anh Đức: "Ấy là một chiều hè năm 1968, trước hôm đi xuống vùng phụ cận Sài Gòn, Hiến sang nhà tôi ăn cơm, ngồi đùa giỡn với thằng con mới lên bốn tuổi của tôi, khen nó ở rừng mà mập, sau Hiến đưa cho tôi một bài thơ có nhan đề là "Anh Giải phóng quân" để tôi coi và đăng vào tờ Văn nghệ Giải phóng. Tôi đã đổi tên bài thơ ấy lại là "Dáng đứng Việt Nam". Nhưng Hiến đâu có biết bài thơ ấy khi in ra.

Hai mươi hôm sau, khi Hiến rời rừng để đi ra vùng phụ cận Sài Gòn, điện từ chiến trường báo về: Hiến đã hy sinh trong một trận đổ quân trực thăng của địch xuống cánh đồng thuộc ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước" (trích sách - "Còn lại với thời gian", NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr.185-186).

 Bài thơ "Dáng đứng Việt Nam", nếu có thể nói, là một "Tượng đài bằng thơ" về người chiến sỹ cách mạng Việt Nam - Anh bộ đội Cụ Hồ - vốn được coi là nhân vật trung tâm của nền văn học Cách mạng thời hiện đại. Khi làm thơ, thi sỹ có thể đi từ khái quát đến cụ thể, hoặc ngược lại, từ cụ thể nâng lên tầm khái quát. Bài thơ của Lê Anh Xuân đi theo hướng thứ hai.

Mở đầu bài thơ, là hình ảnh rất cụ thể, cụ thể đến từng chi tiết của chiến trận: "Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt/Nhưng Anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng/ Và Anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng".

Đó là một tư thế tiến công triệt để, tiến công đến hơi thở cuối cùng của người chiến sỹ Giải phóng quân anh hùng. Đọc những câu thơ này chúng ta bỗng nhớ tới bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng viết năm 1948: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành".

Một bức tranh với hai màu đen trắng phân minh. Quân Giải phóng là màu trắng. Kẻ địch là màu đen: "Chợt thấy Anh giặc hốt hoảng xin hàng/ Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn/ Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công". Người chiến sỹ Giải phóng quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân chiến đấu hy sinh. Dẫu có đổ máu đào trên chiến trận thì mãi mãi anh là biểu tượng của tinh thần "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh".

Chính vì thế khi ra đi mãi mãi, Anh không vương vấn bất kỳ điều gì cho riêng cá nhân mình. Tất cả nhẹ tựa lông hồng. Một mực vì dân vì nước: "Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ". Bài thơ được nâng lên tầm khái quát theo trình tự thời gian kể chuyện (có thể coi bài thơ này là một câu chuyện về một trường hợp hy sinh).

Và kết thúc là những câu thơ có tầm khái quát cao về tư tưởng và nghệ thuật: "Anh là chiến sỹ Giải phóng quân/ Tên Anh đã thành tên đất nước/ Ơi Anh Giải phóng quân/ Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân". Câu thơ kết của bài thơ là một ngân rung. Tạo dư ba. Tạo liên tưởng sâu xa về quê hương, đất nước, thế hệ trẻ. Nó  gieo vào ký ức độc giả những tình cảm lớn lao về nhân phẩm con người. Đúng như câu thơ của Tố Hữu: "Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đồng" ("Việt Nam máu và hoa").

 Một tác phẩm nghệ thuật (trong đó có văn chương/nghệ thuật ngôn từ) hay là tác phẩm giản dị, xúc động và ám ảnh. "Dáng đứng Việt Nam" của Lê Anh Xuân hội tụ đủ ba điều kiện tối cần thiết nêu trên. Nó đi vào lòng người. Nó neo lại trong ký ức độc giả những rung cảm thẩm mỹ cao nhất, bền vững nhất. Nếu nói cái Đẹp là sự giản dị thì bài thơ này đã đạt tới sự giản dị tối đa.

Những nhà thơ thế hệ chống Mỹ, mà Lê Anh Xuân là một đại biểu, đã tuân thủ nguyên tắc/phương châm "Sống đã rồi hãy viết" (Nam Cao) và "Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình" (Hữu Thỉnh). Năm mươi năm "Dáng đứng Việt Nam". Một lần nữa chứng minh sức sống bất diệt của nghệ thuật, một hình thái đặc biệt của đời sống tinh thần, đã vượt qua sự băng hoại của thời gian. Thơ hay như viên ngọc càng mài càng sáng.

                       Hà Nội, tháng 1-2018

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.