Tính tẩu đàn trời

Ngày nay, nhiều nơi người ta vẫn quen gọi cây đàn của người Tày là đàn tính. Ở quê tôi mọi người vẫn thường gọi "tính tẩu". Còn có vùng gọi là "tính then". Có nơi gọi đàn "then". Thậm chí có chỗ gọi mỗi chữ "tính"...

Gọi thế nào bà con người Tày cũng hiểu được đó cây đàn "boong hây" chúng ta. Đều là cây đàn "tùm rưng mì lẻ kin bấu mì lẻ da" (có thì ăn, không có thì thôi). Nhưng theo tôi, gọi "tính tẩu" là chính xác nhất. Bởi trong tiếng Tày, "tính" nghĩa là đàn, "tẩu" nghĩa là bầu.

Nếu dịch nguyên đai nguyên kiện, "tính tẩu" sẽ được hiểu là đàn bầu. Vậy nó có dính dáng gì đến cây đàn bầu của người Kinh dưới xuôi không? Chắc hẳn là có. Chắc chắn là có. Vào một ngày đẹp trời sắp tới, tôi sẽ hầu chuyện các quý bạn sau.  

Ai cũng biết "tính tẩu" là một trong những loại nhạc cụ độc đáo nhất của người Tày, và nó đã trở thành biểu tượng của văn hoá Tày. Vậy nó xuất hiện từ bao giờ? Cho đến nay, các nhà khoa học, các nhạc sĩ, các nghệ sĩ đàn, hát… hình như vẫn đang loay hoay chưa xác định được ai là người sáng tạo, vào thời gian nào, không gian nào làm ra cây đàn thiêng này?

Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng.
Nghệ nhân làm đàn tính ở Cao Bằng.

Tôi đã có lần nghe thấp thoáng bên tai ai đó cho rằng "tính tẩu" xuất hiện vào thời nhà Mạc (1594-1677). Họ còn lý giải thêm rằng vua quan quần thần nhà Mạc vì lánh nạn mà phải dắt díu bồng bế nhau lên tận miền rừng Cao Bằng đóng đô, trong lòng họ dằng dặc nỗi lòng nhớ nhà nhớ quê da diết mà sinh ra bệnh này bệnh khác. Các bậc trí giả vuốt râu cười khà khà bỗng nhớ ra, nghệ thuật âm nhạc có một sức mạnh kỳ diệu, nó có thể chữa lành vết thương tình cảm, giúp con người thăng hoa và khỏi bệnh một cách thần kỳ. Và thế là "tính tẩu" ra đời?

Lại có truyền thuyết trong dân gian Tày kể rằng, từ những năm con trâu trắng biết ngồi, ở một làng nọ, có một chàng thanh niên mồ côi cả cha lẫn mẹ, tên là Xiên Cân. Anh chàng này đã ngoài ba mươi tuổi mà vẫn chưa hỏi được cô gái nào về làm vợ.

Một hôm, chàng Xiên Cân xách "bẳng" (ống bương) đi ra ngoài suối lấy nước, khi nhìn xuống mặt nước thì thấy mình nhàu nhĩ cũ kỹ như quả bòng lạc mùa. Chàng buồn cho duyên phận của mình sao mà "khôm khỏ" đắng cay đến thế. Xiên Cân chỉ còn biết tựa lưng vào vách nhà mà hát. Chàng mở miệng hát như thở, hòng làm cho lòng mình nguôi ngoai khuây khoả nỗi buồn, nhưng nào có vui lên được, cô đơn vẫn hoàn cô đơn.

Rồi một hôm, có người trong bản mách chàng hãy lên mường trời xin hạt giống cây dâu về trồng. Khi cây dâu lớn, cành lá tốt tươi, chàng chăm chỉ miệt mài hái lá chăn tằm. Thế rồi một nong tằm cũng nở ra năm nong kén. Một nong kén nở ra chín nén tơ. Chàng lấy tơ xe thành giây to, giây vừa, giây nhỏ, giây mảnh… mắc vào thân đàn, thế là thành cây "tính tẩu" cho đến hôm nay và mai sau mai sau mai sau mai sau.

Trước khi đàn, ông giàng bà then gọi người nhà thắp hương thơm, thắp đèn nến sáng trưng rồi lẩm nhẩm một chập xin phép thần đàn cho con được đàn. Họ ngồi nhấp chén rượu đợi cho đến khi nào nghe tiếng lép bép nhỏ nhẹ trên ngọn nến, rồi mới được chơi. Ông giàng bà then kính cẩn dùng hai tay nâng đàn lên trên làn khói cảm tạ thần đàn. Nâng lên đưa xuống đủ ba nhịp, rồi mới bắt đầu lên giây cót, gẩy thử rề mi són sao cho thật cân bằng âm vực. Tiếp sau nữa mới đến khúc dạo đầu, nhạc "tính tẩu" bắt đầu khoan thai từ tốn "roong roong mả te cai" nào ngựa ơi ta cất bước lên đường.

"Tính tẩu" thường đệm cho hát giàng hát then, rất ít khi đem đàn ra trình tấu độc lập. Người miền Đông ở vùng núi đá gọi bằng giàng, thường là nam hát. Người miền Tây ở vùng núi đất gọi bằng then, thường là nữ hát.

Trong tiếng Tày giàng then đều nói nghĩa là trời. Nếu giàng miền Đông với những giai điệu hùng tráng, biến tấu nhanh mạnh, thì then miền Tây lại mềm mại, thong thả, nhấn nhá như ngân như nga. Nếu giàng miền Đông tung hoành trời đất thì then miền Tây lại ấm áp dịu dàng. Tiếng đàn ro ro như nước mới từ rừng ngập tràn hoa thơm cỏ lạ chảy về. Và như vậy then cùng giàng hoà quyện vào nhau, chính là khí âm với khí dương, như lửa với nước, như đêm với ngày, như đen với trắng…Nửa nọ phối với nửa kia mà thành tình yêu cây "tính tẩu" của người Cao Bằng. 

Then và giàng đều là nghi thức diễn xướng trong các hoạt động thế giới tâm linh phục vụ cho con người. Ví dụ trong lễ cấp sắc dành riêng cho các ông giàng bà then. Ta hiểu nôm na đấy là lễ tốt nghiệp trong nghề cúng bái. Hay lễ cầu hoa cầu bjooc những ai hiếm muộn cầu xin con cái. Hoặc lễ bắc cầu mở đường, là hình thức cúng dường cho nhân quần xã hội. Rồi lễ "ma nhét" đầy tháng thôi nôi cho trẻ đầu lòng.

Lễ cầu an cầu mùa mỗi dịp xuân về. Lễ mừng thọ cho các bậc cao niên khi chạm vòng hoa giáp, sáu mốt tuổi, bảy ba tuổi, tám lăm tuổi và từ 90 tuổi trở lên gọi là kì ri thọ (chính là kì hi thọ, người Tày nói trệch chữ hi thành chữ ri). Hoặc lễ mừng nhà mới. Lễ nàng hai….  Nói tóm lại, tính tẩu toàn hướng đến việc thiện và việc vui.      

Vậy đặc trưng của "tính tẩu" là gì? "Tính tẩu" thường nhắc lại quá khứ. Kể về những nơi mà đoàn quân then đã đi qua. Những vùng đất, vùng trời. vùng biển mà đoàn quân giàng đã tới. Ví dụ: Đoàn quân then đã vượt biển như thế nào trong trường ca "Khảm hải" (vượt biển)? Hoặc nói về số phận hai chị em A Sằm A Sòi đã thoát chết trong trận lũ ống ra sao…

Vì thế tiếng "tính tẩu" thường thì thầm, trầm trầm, mờ mờ, đục đục và rất giàu tính kịch. Tiếng "tính tẩu" không vang rền nền nẩy như đàn bầu, không réo rắt như tam thập lục, không nỉ non sâu lắng như đàn đáy, không trong vắt như đàn nguyệt. Âm sắc "tính tẩu" gợi cho người nghe thấy một mảng màu u tối, buồn bã của núi rừng. Tiếng "tính tẩu" cực kỳ phù hợp với cảnh sắc áo chàm truyền thống. Đặc biệt trong ngôi nhà sàn người Tày ám đầy khói bếp, ánh lên màu đen xít xịt.

Một tông màu lặng lẽ khiêm nhường trầm mặc, đó là nét tính cách nổi bật nhất của người Tày. Họ có quan niệm màu đen khác với các dân tộc khác. Nếu người phương Tây coi là tang tóc, thì người Tày cho màu đen là biểu hiện của tri thức, của sự hiểu biết. Màu đen tượng trưng cho trí tuệ là sao? Họ giải thích rằng hai con ngươi màu đen nhìn vào hàng hàng chữ đen. Từ đó đưa con người nhận thức từ đơn giản đến phức tạp. Từ hỗn độn đến trật tự. Từ tối tăm mông muộn đến ánh sáng văn minh, "tính tẩu" trầm đục là vì vậy! 

"Tính tẩu" ngày nay được các nhà đạo diễn đưa lên sân khấu, trở thành những tiết mục ca nhạc dân tộc hấp dẫn người nghe người xem. Nhất là trong các cuộc thi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Cả một dàn "tính tẩu" hoà tấu trong những bản nhạc hiện đại, nhằm tôn vinh nghệ thuật truyền thống của dân tộc Tày. Có khá nhiều nghệ sĩ người Kinh họ thích thú về cây đàn này và lập tức chơi thành thạo các ngón "tính tẩu". Tiếng đàn của họ nghe "nắt nỉu" thân thương như lời người yêu chuyển tới người yêu.

Y Phương

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.